TẠP CHÍ Y HỌC THỰC HÀNH - BỘ Y TẾ - JOURNAL OF PRACTICAL MEDICINE Chủ nhật, ngày 26/6/2022  
Các bệnh chuyên khoa
16/04/2014 - 02:53:58 PM
Vai trò của siêu âm trong chẩn đoán phân biệt u lành tính và ác tính u tuyến mang tai
YHTH - U tuyến nước bọt mang tai chiếm >75% các u tuyến nước bọt, phần lớn là u lành tính, u ác tính chiếm khoảng 30%, trong đó chủ yếu là các tổn thương viêm hoặc hạch trong tuyến giả u. Về lâm sàng, u tuyến nước bọt mang tai ở giai đoạn sớm rất khó phát hiện do triệu chứng nghèo nàn.


Tuy nhiên
, các dấu hiệu hình ảnh lại rất rõ ràng trên các phương pháp chẩn đoán hình ảnh (chụp Xquang, siêu âm, cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ). Trong đó siêu âm là phương pháp tiện dụng và không độc hại nên được chi định phổ biến, giúp phát hiện tổn thương và có thể thay thế được phương pháp cắt lớp vi tính (CLVT) hoặc cộng hưởng từ (CHT). Một số đặc điểm hình ảnh trên siêu âm của môt khối u tuyến nước bọt gợi ý đến bản chất lành tính hoặc ác tính của khối u.


Các khối u lành tính thường gặp nhất của tuyến nước bọt chủ yếu là u tuyến đa hình (u hỗn hợp) và u Warthin. Lâm sàng, biểu hiện là khối phát triển chậm không đau. Tuy nhiên, tổn thương nhỏ có thể được phát hiện tình cờ bằng SA. Cấu trúc âm đa dạng (ít âm, rỗng âm, không đều) và khó phân biệt được các khối lành tính với nhau, thậm chí giữa các khối u lành tính và ác tính. Ngoài các khối u lành tính còn có các tổn thương lành tính khác:

- Viêm tuyến xơ hoá tuyến nước bọt mạn tính (u Kuttner) có thể giả một tổn thương ác tính, cả về lâm sàng và hình ảnh. Thông thường trên SA thường biểu hiện là nhiều nốt giảm âm nhỏ nằm rải rác trên một nền âm không đồng nhất, nhưng cũng có thể là một tổn thương khu trú giảm âm không đồng nhất nằm trong tuyến bình thường.

- U nang đơn thuần ít gặp và có thể là bẩm sinh hoặc mắc phải. Nang biểu bì là nang bẩm sinh thành có keratin của biểu mô vảy và sự hiện diện của các thành phần của da (nang lông, tuyến mồ hôi, tuyến bã nhờn). Nang mắc phải có thể do tắc nghẽn của các ống dẫn nước bọt bởi u, sỏi hoặc viêm. Lâm sàng thường biểu hiện như một khối sưng không đau nhưng có thể đau nếu bị viêm nhiễm. Siêu âm khó phân biệt hai loại này cũng như tổn thương u dạng nang khác. Hình ảnh SA u nang cổ điển là hình rỗng âm, tăng sáng phía sau và không có mạch.

- Các hạch bạch huyết trong tuyến bị viêm cấp hoặc mạn tính có thể tăng kích thước, tuy nhiên cấu trúc trên SA vẫn được bảo tồn (giảm âm ở vỏ và tăng âm ở rốn), có thể có mạch máu trung tâm nhất là trong viêm cấp tính.

- Viêm tuyến nước bọt cấp tính, có thể hình thành áp xe. Yếu tố ảnh hưởng bao gồm mất nước và bài ​​tiết tắc nghẽn ống dẫn do sỏi hoặc xơ hóa. Lâm sàng thường biểu hiện sưng đau với đỏ da. Trên SA, áp xe là tổn thương giảm âm với tăng cường âm phía sau và giới hạn không rõ.

Các u ác tính chiếm khoảng 30% các tổn thương khu trú của tuyến mang tai, thường gặp nhất là ung thư biểu mô biểu bì nhày (mucoepidermoid) và nang tuyến (adenoid cystic). Ung thư biểu mô tế bào vảy, ung thư biểu mô tế bào acinic, và ung thư tuyến ít phổ biến hơn. Không giống như các khối u tuyến nước bọt lành tính, khối u ác tính có thể phát triển nhanh, sờ nắn chắc không di động và có thể đau, có thể gây liệt hoặc tê nửa mặt. Hình ảnh SA điển hình là: khối có hình dạng không đều, bờ không rõ, kích thước lớn, cấu trúc không đồng nhất và ít tăng sinh mạch. Tuy nhiên, các khối u ác tính cũng có thể giống khối u lành tính như là đồng nhất và bờ giới hạn rõ.

U lành tính thường gặp với cấu trúc âm không đồng nhất, còn lại là cấu trúc nang và giả u. Khối u lành tính trên siêu âm có ranh giới rõ rệt. Có sự khác biệt giữa ranh giới với tính chất lành tính và ác tính của khối u với độ chính xác > 95%. Về hình dạng, khối u lành tính thường gặp là hình tròn hoặc ovan. U lành tính thường không có mạch hoặc có ít mạch trong u.

Siêu âm là một phương pháp có giá trị và hữu ích trong chẩn đoán bệnh tuyến nước bọt mang tai. Nó không chỉ cho phép xác nhận hoặc loại trừ sự hiện diện của một khối, mà còn chỉ ra bản chất lành hoặc ác tính của khối trong nhiều trường hợp, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của các đặc điểm ranh giới, bờ gới hạn và kích thước.

Theo YHTH số 3 (908)

[Quay lại]
 In trang    Đầu trang
Các tin cùng chủ đề
Kỹ thuật lọc máu hiện đại: cuộc cách mạng trong hồi sức (26/06/2017 - 08:47:38 AM)
Những hướng tiếp cận triển vọng trong điều trị mộng mắt (25/06/2017 - 01:04:05 PM)
Một số bệnh thường gặp ở người già (25/06/2017 - 08:48:00 AM)
Kiểm soát ung thư cổ tử cung (25/06/2017 - 08:47:50 AM)
Kinh nghiệm phẫu tích nhánh xuyên động mạch ngực lưng (19/06/2017 - 01:04:27 PM)
Chẩn đoán và điều trị u thần kinh nội tiết ở đường sinh dục nữ (17/06/2017 - 01:04:37 PM)
Nấm phổi do Aspergillus thể xâm nhập (14/06/2017 - 01:04:48 PM)
Hiện tượng đáp ứng tăng huyết áp cấp tính ở bệnh nhân xuất huyết não giai đoạn cấp (13/06/2017 - 01:04:55 PM)
Tổn thương đáy mắt ở bệnh nhân tăng huyết áp (11/06/2017 - 01:05:12 PM)
Vai trò cộng hưởng từ trong chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến (11/06/2017 - 01:05:05 PM)
Bệnh rối loạn thái dương hàm và phương pháp điều trị (09/06/2017 - 01:05:40 PM)
Nội soi trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng (06/06/2017 - 01:05:54 PM)
Chẩn đoán lao tinh hoàn (02/06/2017 - 01:06:02 PM)
Bệnh liên quan tới rối loạn các chất trong lysosome (30/05/2017 - 01:06:12 PM)
Chẩn đoán và điều trị nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở trẻ em (29/05/2017 - 01:06:21 PM)
KỶ YẾU MỚI PHÁT HÀNH
TẠP CHÍ MỚI PHÁT HÀNH
Downdload tài liệu

Mã số tin nhắn trả về:

TRA CỨU TỪ ĐIỂN
Từ điển: 
Từ khóa:   
Đại từ điển trực tuyến
--- Liên kết website ---
LIÊN KẾT
Chung cư HH2 Linh Đàm