TẠP CHÍ Y HỌC THỰC HÀNH - BỘ Y TẾ - JOURNAL OF PRACTICAL MEDICINE Chủ nhật, ngày 26/6/2022  
Các bệnh chuyên khoa
25/03/2014 - 04:18:45 PM
Ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị viêm phúc mạc ruột thừa

Viêm phúc mạc ruột thừa (VPMRT) là biến chứng nặng, hay gặp của viêm ruột thừa cấp. Nguyên nhân do viêm ruột thừa cấp không được chẩn đoán và xử trí kịp thời, vỡ mủ vào ổ bụng gây viêm phúc mạc và dẫn đến nhiễm độc toàn thân nặng, thậm chí dẫn đến tử vong.


VPMRT là một thể viêm phúc mạc thứ phát, nên nguyên tắc điều trị là phẫu thuật càng sớm càng tốt. Phẫu thuật nhằm mục đích cắt ruột thừa (giải quyết nguyên nhân), rửa và dẫn lưu ổ bụng. Trong vài thập niên trở lại đây với sự phát triển mạnh mẽ của phẫu thuật nội soi, phẫu thuật nội soi điều trị viêm phúc mạc ruột thừa đã được áp dụng. Nhờ những ưu việt của nó so với mổ mở: bệnh nhân ít đau sau mổ, giảm đáng kể nhiễm khuẩn vết mổ, giảm ngày nằm điều trị sau mổ, hiệu quả của phẫu thuật nội soi điều trị viêm phúc mạc ruột thừa đang dần được khẳng định.

Kỹ thuật mổ: Bệnh nhân được gây mê nội khí quản, 1trocar 10mm được đặt ở cạnh dưới rốn làm cổng camera, 1 trocar 10mm mạn sườn trái, 1 trocar 5mm hạ vị. Kiểm tra đánh giá tổn thương ổ bụng, ruột thừa, cắt ruột thừa (kẹp gốc ruột thừa bằng hemolock hoặc khâu). Rửa ổ bụng bằng nước muối sinh lý ấm, có thể pha bethadine loãng làm tăng hiệu quả tưới rửa. Tuỳ tình trạng ổ bụng có thể đặt một, hai hoặc ba dẫn lưu.Thuốc kháng sinh được dùng trước mổ, trong và sau mổ thường được dùng khoảng 5-7 ngày sau mổ, phối hợp 2 kháng sinh Sulperazon và Dalacin C. Giảm đau sau mổ thường dùng Morphin kết hợp paracetamol.

Triệu chứng lâm sàng: Viêm phúc mạc ruột thừa là một biến chứng nguy hiểm của viêm ruột thừa cấp, tuy nhiên việc chẩn đoán vẫn gặp một số khó khăn do diễn biến bệnh khó lường, lâm sàng không điển hình, dễ nhầm với các bệnh khác. Một số trường hợp từ khi xuất hiện triệu chứng tới khi phẫu thuật trong vòng 24 giờ ruột thừa đã vỡ. Cũng có nhiều trường hợp từ khi xuất hiện triệu chứng tới khi vào viện là ngày thứ 3 của bệnh nhưng triệu chứng lâm sàng không điển hình, bệnh nhân vào viện với chẩn đoán sốt chưa rõ nguyên nhân hoặc nhiễm khuẩn nhiễm độc ăn uống. Vì vậy, khi đứng trước một trường hợp bệnh nhân đau bụng luôn phải nghĩ tới viêm ruột thừa cấp để tránh bỏ sót tổn thương. Trong nhóm nghiên cứu ghi nhận: tỷ lệ BN đau hố chậu phải chiếm 95,3%, đau bụng khởi đầu có thể xuất hiện cạnh rốn hoặc vùng thượng vị sau khu trú tạ HCP, tính chất đau khi thì đột ngột khi thì đau âm ỉ, liên tục và tăng dần. Một số trường hợp biểu hiện đau giảm đi sau vài giờ đau tăng trở lại và xuất hiện những triêu chứng của bệnh cảnh VPM toàn thể, hoặc có phản ứng nửa bụng phải.

- Hội chứng nhiễm trùng: Trong nhóm nghiên cứu ghi nhận 92,1% BN có sốt cao, 89% có chỉ số bạch cầu tăng cao. Mức độ nhiễm trùng nhiễm độc phụ thuộc vào thể VPMRT, phụ thuộc vào thể trạng của BN.

- Triệu chứng thực thể thường gặp nhất là phản ứng vùng hố chậu phải.

- Các xét nghiện cận lâm sàng: Siêu âm là phương pháp chẩn đoán hình ảnh dễ thực hiện nhất và có tỷ lệ độ chuẩn và độ chính xác cao. Tỷ lệ bệnh nhân có dịch trong ổ bụng với các mức độ khác nhau chiếm 75% trên kết quả siêu âm. Siêu âm có dịch trong ổ bụng là dấu hiệu có giá trị trong chẩn đoán VPMRT và trong các trường hợp còn nghi ngờ thì nên khám lâm sàng và siêu âm nhiều lần để so sánh, khi các triệu chứng lâm sàng và dịch trong ổ bụng qua siêu âm tăng hơn so với trước thì nên mổ.

Điều trị phẫu thuật nội soi: Điều trị viêm phúc mạc ruột thừa dù tiến hành phẫu thuật nội soi hay mổ mở thì nhiệm vụ cơ bản vẫn là cắt ruột thừa (giải quyết nguyên nhân), rửa và dẫn lưu ổ bụng. Cũng giống như cắt ruột thừa trong các trường hợp viêm ruột thừa cấp chưa có biến chứng sẽ tiến hành đốt cầm máu mạc treo ruột thừa bằng dao đốt điện đơn cực. Gốc ruột thừa được kẹp bằng hemolock, những trường hợp gốc ruột thừa to chúng tôi buộc gốc bằng mối chỉ Roeder. Những trường hợp gốc ruột thừa bị hoại tử chúng tôi tiến hành khâu vùi. Có 3 trường hợp khâu nội soi thất bại chúng tôi phải mổ mở và đặt dẫn lưu manh tràng qua gốc ruột thừa.

Điều quan trọng nhất trong phẫu thuật điều trị viêm phúc mạc ruột thừa là rửa sạch dịch mủ trong ổ bụng, đây là công việc đòi hỏi kỹ năng và kinh nghiệm phẫu thuật. Vì trong tình trạng viêm phúc mạc, các quai ruột non phù nề chướng hơi và dịch, làm hạn chế trường mổ, đồng thời rất dễ gây tổn thương các tạng trong ổ bụng khi thao tác. Ở đây chúng tôi dùng nước muối sinh lý ấm tưới rửa ổ bụng, có thể pha thêm bethadin loãng vào nước muối để tăng hiệu quả làm sạch ổ bụng. Khi rửa là phải bộc lộ được các vị trí có nguy cơ đọng dịch mủ, đặc biệt trong những trường hợp bệnh nhân đến muộn, các quai ruột đã có xu hướng dính vào nhau. Trong những trường hợp này cần thiết phải tách từng quai ruột ra. Không nên cố lấy hết giả mạc trong những trường hợp bám chắc do có nguy cơ chảy máu, tổn thương ruột. Việc tưới rửa được tiến hành từng vùng của ổ bụng tới khi dịch rửa trong là được. Có tác giả cho rằng không nên rửa quá nhiều nước và không rửa ra xa vùng ruột thừa nếu không thấy dịch mủ vì sợ dịch mủ sẽ lan ra những vùng không có tổn thương. Theo quan điểm chúng tôi tiến hành rửa ổ bụng rộng rãi bộc lộ hết các vị trí có thể đọng dịch, dịch rửa sẽ được dẫn lưu hết khi bệnh nhân ngồi dậy, tập vận động. Các biến chứng sau mổ hay được nhắc đến là áp xe tồn dư sau mổ, tụ dịch sau mổ, nhiễm khuẩn vết mổ, ít gặp hơn là rò manh tràng, tắc ruột sớm. Mổ nội soi làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ so với mổ mở.

Qua nghiên cứu và thực tiễn lâm sàng cho thấy phẫu thuật nội soi trong điều trị viêm phúc mạc ruột thừa là an toàn và đạt được hiểu quả điều trị. Mặc dù có một số biến chứng sau mổ như nhiễm trùng chân trocar, áp xe tồn dư sau mổ, tắc ruột sớm sau mổ. Tuy vậy, phẫu thuật nội soi có nhiều ưu điểm so với mổ mở: bệnh nhân ít đau đớn, nhanh phục hồi, sẹo mổ mang tính thẩm mĩ cao. Tuy nhiên phẫu thuật nội soi trong viêm phúc mạc ruột thừa vẫn là phẫu thuật đòi hỏi kỹ năng và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Nó cần tiếp tục được nghiên cứu hoàn thiện và khẳng định hiệu quả trong quá trình thực hành lâm sàng.

YHTH số 2 (905)

[Quay lại]
 In trang    Đầu trang
Các tin cùng chủ đề
Kỹ thuật lọc máu hiện đại: cuộc cách mạng trong hồi sức (26/06/2017 - 08:47:38 AM)
Những hướng tiếp cận triển vọng trong điều trị mộng mắt (25/06/2017 - 01:04:05 PM)
Một số bệnh thường gặp ở người già (25/06/2017 - 08:48:00 AM)
Kiểm soát ung thư cổ tử cung (25/06/2017 - 08:47:50 AM)
Kinh nghiệm phẫu tích nhánh xuyên động mạch ngực lưng (19/06/2017 - 01:04:27 PM)
Chẩn đoán và điều trị u thần kinh nội tiết ở đường sinh dục nữ (17/06/2017 - 01:04:37 PM)
Nấm phổi do Aspergillus thể xâm nhập (14/06/2017 - 01:04:48 PM)
Hiện tượng đáp ứng tăng huyết áp cấp tính ở bệnh nhân xuất huyết não giai đoạn cấp (13/06/2017 - 01:04:55 PM)
Tổn thương đáy mắt ở bệnh nhân tăng huyết áp (11/06/2017 - 01:05:12 PM)
Vai trò cộng hưởng từ trong chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến (11/06/2017 - 01:05:05 PM)
Bệnh rối loạn thái dương hàm và phương pháp điều trị (09/06/2017 - 01:05:40 PM)
Nội soi trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng (06/06/2017 - 01:05:54 PM)
Chẩn đoán lao tinh hoàn (02/06/2017 - 01:06:02 PM)
Bệnh liên quan tới rối loạn các chất trong lysosome (30/05/2017 - 01:06:12 PM)
Chẩn đoán và điều trị nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở trẻ em (29/05/2017 - 01:06:21 PM)
KỶ YẾU MỚI PHÁT HÀNH
TẠP CHÍ MỚI PHÁT HÀNH
Downdload tài liệu

Mã số tin nhắn trả về:

TRA CỨU TỪ ĐIỂN
Từ điển: 
Từ khóa:   
Đại từ điển trực tuyến
--- Liên kết website ---
LIÊN KẾT
Chung cư HH2 Linh Đàm