TẠP CHÍ Y HỌC THỰC HÀNH - BỘ Y TẾ - JOURNAL OF PRACTICAL MEDICINE Thứ 6, ngày 20/9/2019  
Kiến Thức HIV/AIDS
19/11/2012 - 11:25:18 PM
TỶ LỆ NHIỄM HIV, GIANG MAI VÀ CÁC HÀNH VI NGUY CƠ GÂY NHIỄM HIV TRONG NHÓM ĐỒNG BÀO DÂN TỘC ÍT NGƯỜI TẠI VIỆT NAM
Cho đến nay, mặc dù chưa có bất cứ nghiên cứu khoa học nào tiến hành trên nhóm dân tộc ít người, nhưng theo số liệu chưa đầy đủ ban đầu của một số tỉnh đã cảnh báo về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trên một số dân tộc ít người.
 

I.    ĐẶT VẤN ĐỀ

Đặc thù về trình độ văn hoá, trình độ hiểu biết, hành vi và các biện pháp can thiệp trên nhóm dân tộc ít người rất khác với nhóm người Kinh. Phần lớn khu vực dân tộc ít người sinh sống lại có nhiều nguy cơ tiềm tàng làm lây lan HIV/AIDS như trồng và sử dụng cây thuốc phiện, buôn bán vận chuyển ma tuý. Tình hình nghiện chích ma tuý trong nhóm đồng bào dân tộc ít người nhất là vùng sâu vùng xa và biên giới đang gia tăng nhanh trong những năm gần đây.

Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ quan hệ tình dục (QHTD) trước hôn nhân của thanh niên nhóm dân tộc thiểu số đã lập gia đình 15-24 tuổi tương ứng là 39,8% và 26,1% cho nhóm nam giới và nữ giới. Trong số nữ thanh niên trả lời đã QHTD trước hôn nhân có 26,8% số chưa lập gia đình trả lời đã từng có thai. Như vậy cứ 4 người đã QHTD trước hôn nhân thì 1 người đã mang thai [1].

Nghiên cứu này được triển khai nhằm xác định tỷ lệ nhiễm HIV, giang mai và các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của đồng bào dân tộc ít người tại 11 tỉnh, từ đó đề xuất những mô hình can thiệp dự phòng phù hợp.

II. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA

2.1. Đối tượng điều tra 

Tiến hành điều tra 9 nhóm dân tộc ít người Tày, Nùng, Sán dìu, Sán chay, Thái, Dao, H’mông, Raglay, và Khmer. Tất cả những người sống trên địa bàn tỉnh được điều tra từ một tháng trở lên thuộc nhóm dân tộc ít người dự kiến điều tra và có độ tuổi từ 15 - 49 (sinh từ tháng 01/1957- tháng 1/1991) đều có thể tham gia vào nghiên cứu.

2.2. Địa điểm điều tra

Cuộc điều tra được tiến hành từ 9-12/2006 tại 11 tỉnh triển khai dự án “Phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam ” do Ngân hàng Thế giới tài trợ là Cao Bằng (Tày, Nùng), Bắc Giang (Nùng), Lai Châu (H’mông), Yên Bái (Dao), Thái Nguyên (Sán chây, Sán dìu), Thanh Hóa (Thái), Khánh Hòa (Raglay), Đồng Nai (Tày, Nùng), An Giang (Khmer), Kiên Giang (Khmer) và Hậu Giang (Khmer).

2.3. Cỡ mẫu

Đã điều tra tổng cộng 8630 người 15-49 tuổi (Cao Bằng: 667; Bắc Giang: 817; Thái Nguyên: 787; Thanh Hóa: 820; Lai Châu: 838; Yên Bái: 807; Khánh Hòa: 681; An Giang: 800; Đồng Nai: 809; Hậu Giang: 800; Kiên Giang: 804).

2.4. Chọn hộ và tiến hành điều tra

Hộ gia đình trong nghiên cứu này là toàn bộ những người sống trong cùng một mái nhà. Sử dụng phương pháp chọn mẫu hệ thống để xác định những hộ cần điều tra dựa vào danh sách hộ gia đình mà Uỷ ban nhân dân xã cung cấp. Đến hộ gia đình đã được chọn, điều tra toàn bộ người sống trong hộ gia đình ít nhất 1 tháng trở lên có tuổi 15-49. Không lưu tên của người tham gia nghiên cứu dưới bất cứ hình thức nào. Tất cả các thông tin thu được từ người nghiên cứu được tuyệt đối giữ bí mật.

2.5. Lấy máu làm xét nghiệm HIV và giang mai

Sau khi kết thúc phỏng vấn, người tham gia nghiên cứu được đề nghị lấy 5ml máu ven. Sử dụng phương cách III của Bộ Y tế để khẳng định một trường hợp HIV dương tính. Một mẫu huyết thanh được coi là dương tính với giang mai nếu mẫu đó phản ứng với cả hai tét RPR và TPHA. Các mẫu còn lại được coi là giang mai âm tính.

2.6. Nhập và phân tích số liệu

Toàn bộ số liệu được nhập tại viện VSDTTƯ. Sử dụng phần mềm EPIINFOR và STATA cho việc phân tích số liệu.

III.  KẾT QUẢ

3.1. Các đặc trưng cơ bản hộ gia đình và các cá nhân được phỏng vấn

Bảng 1 cho thấy trình độ học vấn rất khác nhau giữa các nhóm đồng bào dân tộc. Tỷ lệ người dân tộc H’Mông tại Lai Châu, dân tộc Dao tại Yên Bái và dân tộc Khơ Me tại An Giang chưa bao giờ đi học tương ứng là 76,8%, 51,5% và 44,3%. Thái Nguyên và Thanh Hoá có tỷ lệ đồng bào Sán Dìu/Sán Chay và đồng bào Thái chưa bao giờ đi học thấp nhất (0,8% tại Thái Nguyên và 1,8% tại Thanh Hoá). Đại đa số các đồng bào dân tộc của 11 tỉnh tham gia điều tra có trình độ văn hoá tiểu học và trung học cơ sở.

Hầu hết các nhóm đồng bào dân tộc được điều tra biết nói thành thạo tiếng dân tộc mình. Thái Nguyên là tỉnh có tỷ lệ đồng bào dân tộc biết nói tiếng Sán Dìu/Sán Chay thấp nhất (62,4%). Hầu hết các nhóm đồng bào dân tộc được điều tra đều biết nói tiếng Kinh. Tỉnh có tỷ lệ đồng bào dân tộc biết nói tiếng Kinh thành thạo thấp nhất là Cao Bằng (69,9%) và Yên Bái (74,7%).

3.2 Quan hệ tình dục và sử dụng bao cao su

Lai Châu và Yên Bái là hai tỉnh có trung vị tuổi quan hệ tình dục lần đầu thấp nhất (17 tuổi) (bảng 2). Các tỉnh còn lại có trung vị tuổi quan hệ tình dục lần đầu là 20-21 tuổi.

Trong số những nam giới có quan hệ tình dục với vợ hoặc bạn tình chung sống trong 12 tháng trước khi tiến hành cuộc điều tra, tỷ lệ người có sử dụng BCS trong lần QHTD lần gần nhất cao nhất cũng chỉ là 17,7% trên nhóm đồng bào Tày ở Đồng Nai (bảng 3). Tỉnh có tỷ lệ nam giới sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất thấp nhất là Cao Bằng (2,2%). Tỷ lệ luôn sử dụng BCS trong 12 tháng qua cao nhất là ở đồng bào Tày ở Đồng Nai (8,8%) và thấp nhất là ở đồng bào Nùng ở Cao Bằng (0,9%). Có nghĩa là nam giới  ở đây hầu như không sử dụng BCS trong QHTD.

Số nam giới có QHTD với bạn tình bất chợt nhiều nhất là đồng bào H’Mông ở Lai Châu (69 người). Trong đó có 37,7% sử dụng BCS trong lần gần nhất và 31,8% luôn sử dụng BCS trong 12 tháng qua. Yên Bái là tỉnh thứ hai trong số 11 tỉnh được điều tra có nhiều nam giới có QHTD với bạn tình bất chợt trong 12 tháng qua (25 người). Trong đó chỉ có 32,0% sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất và 20,0% luôn sử dụng BCS trong 12 tháng vừa qua. Các tỉnh còn lại hoặc không có người nào tự nhận có QHTD với bạn tình bất chợt trong 12 tháng qua hoặc chỉ có một đến 3 người. Số nam giới ở Kiên Giang (8 người) và Thái Nguyên (5 người) tự nhận có quan hệ tình dục với gái mại dâm trong 12 tháng qua. Tỷ lệ nam giới người Khơ Me tỉnh Kiên Giang có sử dụng BCS lần QHTD gần nhất với gái mại dâm trong 12 tháng qua là 75,0% và luôn sử dụng sử dụng BCS khi QHTD với gái mại dâm trong 12 tháng qua là 12,5%. Tỷ lệ nam giới sử dụng BCS lần QHTD gần nhất và luôn sử dụng BCS khi QHTD với gái mại dâm trong 12 tháng của đồng bào Sán Dìu/Sán Chay tỉnh Thái Nguyên đều là 40,0%. 

Trong số những người phụ nữ có QHTD với chồng hoặc bạn tình đang chung sống trong 12 tháng qua, tỷ lệ nữ giới của đồng bào Tày ở Đồng Nai, đồng bào Nùng ở Bắc Giang và đồng bào Sán Dìu/Sán Chay ở Thái Nguyên sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất tương ứng là 11,6%, 10,9% và 10,5% (bảng 4). Tỷ lệ nữ giới luôn  sử dụng BCS trong 12 tháng qua với chồng hoặc bạn tình đang chung sống của tỉnh Đồng Nai, Thái Nguyên, An Giang và Hậu Giang tương ứng là 6,4%, 3,3%, 3,2% và 3,2%.

Yên Bái là tỉnh có số nữ giới tự nhận có QHTD với bạn tình bất chợt là nhiều nhất (11 người). Tỷ lệ sử dụng BCS lần QHTD gần nhất là 9,1% và tỷ lệ luôn sử dụng BCS trong 12 tháng qua là 10,0%.

3.3 Sử dụng và tiêm chích ma tuý

Sử dụng và tiêm chích ma tuý là một trong những nguy cơ lây truyền HIV cao nhất tại Việt Nam. Lai Châu là tỉnh có tỷ lệ người dân được điều tra đã từng sử dụng ma tuý cao nhất (10,5%). Các tỉnh Thái Nguyên, Yên Bái và Đồng Nai có tỷ lệ người dân đã từng sử dụng ma tuý dưới 2,0%. Trong số những người đã từng sử dụng ma tuý của các tỉnh, Đồng Nai và Thanh Hoá là hai tỉnh có tỷ lệ số người tiêm chích ma tuý cao nhất (100,0% - Đồng Nai và 93,3% - Thanh Hoá).

3.4 Hiểu biết về HIV/AIDS

Những tỉnh có tỷ lệ nam giới đã từng nghe nói về HIV/AIDS cao nhất là Thái Nguyên (97,7%), Đồng Nai (96,4%), Thanh Hoá (95,6%) và Bắc Giang (94,9). Lai Châu là tỉnh có tỷ lệ nam giới đã từng nghe nói về HIV/AIDS thấp nhất (52,3%). Kiến thức đầy đủ về HIV là trả lời đúng cả ba phương pháp phòng tránh lây truyền HIV bao gồm có thể phòng tránh HIV bằng cách luôn sử dụng BCS, chỉ QHTD với 1 bạn tình chung thuỷ và không bị nhiễm bệnh, và không dùng chung BKT. Tỷ lệ nhóm thanh niên 15-24 tuổi có hiểu biết đầy đủ về phòng chống HIV/AIDS cao nhất cũng chỉ là 38,0% (Thái Nguyên). Đặc biệt tỉnh Lai Châu tỷ lệ này là 0,0%. Nghĩa là trong số 369 nam cá nhân đồng bào dân tộc H’Mông được điều tra tại tỉnh Lai Châu không có ai trả lời đúng cả ba phương pháp phòng tránh lây truyền HIV/AIDS nêu trên. Cũng tương tự như vậy, tỷ lệ nhóm nam giới 15-49 tuổi có hiểu biết đầy đủ về phòng chống HIV/AIDS cao nhất là tại Thái Nguyên (29,5%) và thấp nhất là tại Lai Châu (1,6%). 

Những tỉnh có tỷ lệ nữ giới đã từng nghe nói về HIV/AIDS cao nhất là Thái Nguyên (95,1%), Đồng Nai (94,7%) và Thanh Hoá (90,6%). Tỉnh có tỷ lệ nữ giới đã từng nghe nói về HIV/AIDS thấp nhất vẫn là Lai Châu (12,8%). Tỉnh có tỷ lệ nữ giới nhóm tuổi 15-24 và nhóm tuổi 15-49 hiểu biết đầy đủ các biện pháp phòng tránh lây truyền HIV/AIDS cao nhất là Thái Nguyên (28,6% cho nhóm 15-24 tuổi và 24,5% cho nhóm 15-49 tuổi). Lai Châu vẫn là tỉnh có nhóm nữ giới 15-24 tuổi và 15-49 tuổi không ai hiểu biết đầy đủ về các biện pháp phòng tránh lây truyền HIV/AIDS.

Chương trình phòng chống lây truyền từ mẹ sang con là một trong những chương trình được ưu tiên. Thuốc điều trị dự phòng lây truyền HIV từ những người mẹ nhiễm HIV sang con được cấp miễn phí và được cung cấp đầy đủ cho toàn bộ các tỉnh trong cả nước. Tỷ lệ những người tham gia điều tra trả lời đã có thuốc điều trị cho mẹ nhiễm HIV để giảm nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con của các tỉnh rất thấp và không khác nhau quá xa. Tỉnh có tỷ lệ cao nhất là Thái Nguyên cũng chỉ là 26,9%. Tỉnh có tỷ lệ thấp nhất là Cao Bằng với 15,2%. Tỉnh có tỷ lệ người biết có loại thuốc kháng vi rút điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS cao nhất là Thái Nguyên (60,3%). Tỉnh có tỷ lệ người biết có thuốc kháng vi rút điều trị cho người nhiễm HIV thấp nhất là Cao Bằng (21,4%). Các tỉnh còn lại dao động trong khoảng trên dưới 30,0-40,0%.

3.5 Tiếp cận với các nguồn thông tin phòng chống HIV/AIDS

Nhìn chung, tỷ lệ những người đã từng nhận được thông tin tuyên truyền về phòng chống HIV đều rất cao ở tất cả các tỉnh được điều tra (biểu đồ 2). Tỷ lệ thấp nhất là 81,7% (Lai Châu). Các tỉnh còn lại tỷ lệ này đều lớn hơn 90,0%. Tỷ lệ quần thể dân cư được điều tra nhận được thông tin tuyên truyền về phòng chống HIV trong 12 tháng qua có thấp hơn tỷ lệ đã từng nhận được thông tin phòng chống HIV/AIDS đôi chút nhưng vẫn ở mức độ cao ở tất cả các tỉnh. Tỷ lệ nhận được thông tin tuyên truyền về phòng chống HIV trong 12 tháng qua thấp nhất là 75,9% (Lai Châu). Ngoài nhận được thông tin về HIV/AIDS, người dân còn nhận được rất nhiều các nguồn thông tin khác như viêm gan, tiêm chích an toàn, tình dục an toàn, cai nghiện ma tuý, giáo dục giới tính và các bệnh lây truyền qua đường quan hệ tình dục. Các hỗ trợ khác về phòng chống HIV/AIDS bao gồm nhận được bao cao su, bơm kim tiêm và khám chữa các bệnh lây truyền qua đường quan hệ tình dục. Tỷ lệ người dân đã từng nhận được các hỗ trợ này tại các tỉnh khác nhau là khác nhau.
    Các tỉnh có tỷ lệ người dân 15-49 tuổi đã từng được nhận BCS cao nhất là Thanh Hoá (25,2%), Bắc Giang (16,1%), Lai Châu (15,8%) và Thái Nguyên (15,6%). Các tỉnh có tỷ lệ người dân 15-49 tuổi đã từng nhận được bơm kim tiêm cao nhất là Thanh Hoá (8,9%) và Lai Châu (2,8%). Các tỉnh có tỷ lệ người dân đã từng được khám chữa các bệnh lây qua đường quan hệ tình dục là Yên Bái (54,8%), Thanh Hoá (13,8%), Bắc Giang (8,4%) và Thái Nguyên (8,2%). Các tỉnh có tỷ lệ người dân đã từng làm xét nghiệm HIV cao nhất là Thái Nguyên (3,0%), Thanh Hoá (2,0%), An Giang (1,0%), Bắc Giang (0,9%), Đồng Nai (0,8%) và Hậu Giang (0,8%). Tỷ lệ người dân nhận được các hỗ trợ trên trong 12 tháng qua có giảm đi đôi chút.

3.6 Phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS

Thái độ chấp nhận người nhiễm HIV và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV là một phần quan trọng trong cuộc chiến chống lại căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. Tỷ lệ nam giới được phỏng vấn đồng ý mua đồ ăn từ người bán hàng nhiễm HIV/AIDS của các tỉnh đều rất thấp (bảng 5). Các tỉnh có tỷ lệ chấp nhận mua đồ ăn từ người bán hàng nhiễm HIV/AIDS cao nhất là Thái Nguyên (48,4%), An Giang (43,4%) và Thanh Hoá (43,3%). Tỉnh có tỷ lệ chấp nhận mua đồ ăn từ người bán hàng nhiễm HIV/AIDS thấp nhất là Yên Bái (11,7%), Lai Châu (14,0%) và Hậu Giang (17,6%). Các tỉnh có tỷ lệ nam giới trả lời không cần giữ bí mật tình trạng nhiễm HIV của thành viên trong gia đình cao nhất là Yên Bái (78,3%), Bắc Giang (70,7%%) và An Giang (66,6%). Nhìn chung, tỷ lệ nam giới trả lời sẵn sàng chăm sóc thành viên của gia đình bị nhiễm HIV tại nhà tại các tỉnh có cao hơn hai tỷ lệ nêu trên. Các tỉnh có tỷ lệ trả lời sẵn sàng chăm sóc thành viên của gia đình bị nhiễm HIV tại nhà cao nhất là Bắc Giang (97,6%),  Khánh Hoà (97,5%), Thái Nguyên (95,2%) và Cao Bằng (93,8%). Các tỉnh có tỷ lệ nam giới trả lời chấp nhận một nữ giáo viên nhiễm HIV nhưng vẫn khoẻ mạnh được phép giảng dạy cao nhất là An Giang (74,4%), Thái Nguyên (70,6%) và Thanh Hoá (62,5%). Thái độ tích cực với người nhiễm HIV được định nghĩa là bao gồm cả bốn thái độ nêu trên. Đó là đồng ý chấp nhận mua đồ ăn của người bán hàng nhiễm HIV/AIDS, không cần giữ bí mật về tình trạng nhiễm HIV của thành viên trong gia đình, sẵn sàng chăm sóc thành viên trong gia đình bị nhiễm tại nhà và chấp nhận một nữ giáo viên bị nhiễm HIV nhưng vẫn khoẻ mạnh được phép giảng dạy. Tỷ lệ nam giới được điều tra có thái độ tích cực với người nhiễm HIV của cả 11 tỉnh đều rất thấp. Tỉnh có tỷ lệ cao nhất là Thái Nguyên (18,4%). Và tỉnh có tỷ lệ thấp nhất là Lai Châu (3,1%).

Thái độ tích cực với người nhiễm HIV: người trả lời đồng ý với các ý kiến (chấp nhận mua đồ ăn từ người bán hàng nhiễm HIV/AIDS, không cần giữ bí mật về tình trạng nhiễm của thành viên trong gia đình, sẵn sàng chăm sóc thành viên gia đình bị nhiễm HIV tại nhà, chấp nhận một nữ giáo viên bị nhiễm HIV nhưng vẫn khỏe mạnh được phép giảng dạy)

Tỷ lệ nữ giới được phỏng vấn đồng ý mua đồ ăn từ người bán hàng nhiễm HIV/AIDS của các tỉnh đều rất thấp và thấp hơn đôi chút so với tỷ lệ nam giới được phỏng vấn (bảng 6). Các tỉnh có tỷ lệ chấp nhận mua đồ ăn từ người bán hàng nhiễm HIV/AIDS cao nhất là Thái Nguyên (42,4%), An Giang (36,4%), Cao Bằng (36,0%) và Thanh Hoá (34,8%). Tỉnh có tỷ lệ nữ giới chấp nhận mua đồ ăn từ người bán hàng nhiễm HIV/AIDS thấp nhất là Hậu Giang (9,4%), Lai Châu (10,0%) và Yên Bái (14,9%%). Các tỉnh có tỷ lệ nữ giới trả lời không cần giữ bí mật tình trạng nhiễm HIV của thành viên trong gia đình cao nhất là Yên Bái (71,8%), An Giang (68,8%%) và Đồng Nai (61,1%). Cũng như nhóm nam giới, tỷ lệ nữ giới trả lời sẵn sàng chăm sóc thành viên của gia đình bị nhiễm HIV tại nhà tại các tỉnh có cao hơn hai tỷ lệ nêu trên. Các tỉnh có tỷ lệ trả lời sẵn sàng chăm sóc thành viên của gia đình bị nhiễm HIV tại nhà cao nhất là Bắc Giang (92,9%),  Khánh Hoà (97,3%), Cao Bằng (89,4%) và Thanh Hoá (89,1%). Các tỉnh có tỷ lệ nữ giới đồng ý chấp nhận một nữ giáo viên nhiễm HIV nhưng vẫn khoẻ mạnh được phép giảng dạy cao nhất là An Giang (70,8%), Thái Nguyên (70,5%) và Thanh Hoá (63,3%). Tỷ lệ nữ giới được điều tra có thái độ tích cực với người nhiễm HIV của cả 11 tỉnh đều rất thấp. Tỉnh có tỷ lệ cao nhất là An Giang (21,4%). Và tỉnh có tỷ lệ thấp nhất là Lai Châu (1,8%).

Cuộc điều tra này cũng đã có một số câu hỏi liên quan đến quan điểm của người được phỏng vấn về người nhiễm HIV. Vẫn còn tỷ lệ rất cao tại hầu hết các tỉnh cho rằng người nhiễm HIV là người phải thấy xấu hổ về bản thân mình (biểu đồ 3). Lai Châu (87,2%), Hậu Giang (78,1%) và Thanh Hoá (72,9%) là các tỉnh có số người cao nhất đồng ý với quan điểm này. Cũng như vậy với quan điểm cho rằng người nhiễm HIV là người có lỗi trong việc mang bệnh tật về cho cộng đồng. Các tỉnh có tỷ lệ người cho rằng người nhiễm HIV là người có lỗi trong việc mang bệnh tật về cho cộng đồng cao nhất là Lai Châu (81,6%), Hậu Giang (76,2%), Thanh Hoá (76,1%) và Bắc Giang (73,9%).

 

3.7 Tư vấn và xét nghiệm HIV

Tư vấn xét nghiệm tình nguyện là một thành tố quan trọng trong phòng chống HIV/AIDS. Xét nghiệm HIV làm cho người có hành vi nguy cơ cao biết được trạng thái nhiễm HIV của mình để có những thay đổi hành vi nguy cơ. Tư vấn trước xét nghiệm và tư vấn sau xét nghiệm nhằm làm cho người được làm xét nghiệm HIV đồng ý làm xét nghiệm, chấp nhận kết quả xét nghiệm và định hướng thay đổi hành vi. Các tỉnh có tỷ lệ người đã từng làm xét nghiệm HIV cao nhất là Thái Nguyên (8,7%), Kiên Giang (4,6%) và Đồng Nai (4,2%) (biểu đồ 4). Khánh Hoà là tỉnh có tỷ lệ người đã từng làm xét nghiệm HIV thấp nhất (0,9%). Trong số những người đã từng làm xét nghiệm, tỷ lệ những người đến lấy kết quả xét nghiệm lại thay đổi theo từng tỉnh. Các tỉnh có tỷ lệ người đến nhận kết quả cao nhất là Thanh Hoá (86,4%), Khánh Hoà (80,0%), Thái Nguyên (79,7%), An Giang (76,2%) và Cao Bằng (75,0%). Trước khi thông báo kết quả xét nghiệm HIV cho người đến nhận kết quả, người tư vấn phải tiến hành tư vấn sau xét nghiệm. Đây là quy định trong hướng dẫn tư vấn xét nghiệm tình nguyện đã được Bộ Y tế ban hành. Các tỉnh có tỷ lệ nhận được tư vấn sau xét nghiệm cao là Lai Châu (100,0%), An Giang (81,3%), và Thanh Hoá (73,7%). Kiên Giang có tỷ lệ người được tư vấn sau xét nghiệm thấp nhất (27,8%). Muốn làm xét nghiệm thì thông tin biết được những địa điểm có thể đến làm xét nghiệm là quan trọng. Biết được những địa điểm làm xét nghiệm HIV để có thể lựa chọn nơi đến làm xét nghiệm phù hợp nhất. Nhìn chung, tỷ lệ người dân 15-49 tuổi của các tỉnh được điều tra biết được những địa điểm có thể đến xét nghiệm HIV không cao.  Hai tỉnh có tỷ lệ người dân biết được những địa điểm có thể xét nghiệm HIV cao hơn hẳn các tỉnh còn lại là Thái Nguyên (71,6%) và Thanh Hoá (60,3%). Các tỉnh còn lại, tỷ lệ này chủ yếu dao động trong khoảng 20,0%.

 

3.9 Tỷ lệ nhiễm Giang mai và HIV

Tỷ lệ mắc giang mai của Thanh Hóa, Yên Bái, Khánh Hòa, An Giang, Đồng Nai, Hậu Giang và Kiên Giang tương ứng là 0,2%, 3,3%, 0,3%, 1,6%, 0,1%, 1,5% và 1,4%. Các tỉnh còn lại không phát hiện được người nào mắc giang mai.

Tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất trên nhóm đồng bào dân tộc Thái là (2,8%). Bắc Giang, Cao Bằng, Yên Bái không phát hiện được trường hợp nhiễm HIV nào. Tỷ lệ nhiễm HIV tại Thái Nguyên, Lai Châu, Khánh Hoà, An Giang, Đồng Nai, Hậu Giang và Kiên Giang tương ứng là 0,5%, 0,6%, 1,1%, 0,1%, 0,8%, 0,5% và 0,2%.

IV. BÀN LUẬN

Đây là điều tra đầu tiên tại Việt Nam trên nhiều nhóm đồng bào dân tộc ít người tại nhiều tỉnh về tỷ lệ nhiễm HIV, giang mai và các hành vi nguy cơ gây nhiễm HIV/AIDS. Tỷ lệ đồng bào H’Mông của Lai Châu, đồng bào Dao của Yên Bái và đồng bào Khơ Me của An Giang chưa bao giờ đi học rất cao. Các tỉnh này cần thiết kế các tài liệu truyền thông sao cho mọi người biết chữ cũng như không biết chữ cũng có thể hiểu được.

Tỷ lệ nam đồng bào dân tộc có quan hệ với bạn tình bất chợt trong 12 tháng qua của đồng bào H’mông của Lai Châu (21,1%) và đồng bào Dao của Yên Bái (7,1%) là cao nhất. Kết quả nghiên cứu định tính tại hai tỉnh này cho thấy nhóm dân tộc H’Mông ở Lai Châu và dân tộc Dao ở Yên Bái có quan hệ tình dục tương đối tự do và thoải mái do quan niệm và lối sống đã có từ lâu. Các điều tra xã hội học trong khuôn khổ nghiên cứu này cũng cho thấy hai nhóm đồng bào dân tộc này sử dụng BCS không nhiều do BCS không sẵn có và chủ yếu là giới trẻ mới biết và sử dụng. Nếu nhóm người này nhiễm HIV hoặc các bệnh lây truyền qua QHTD như giang mai, chlamydia, lậu thì mức độ lây truyền các bệnh trong nhóm người này sẽ rất nhanh. Hầu hết các nhóm dân tộc ít người trong điều tra này ít có quan hệ tình dục với gái mại dâm do thu nhập kinh tế thấp nên không đủ tiền để đi mua dâm. 

Nhóm nữ đồng bào dân tộc Dao tại Yên Bái cũng có mức độ QHTD với bạn tình bất chợt trong 12 tháng qua nhiều nhất. Điều tra xã hội học tại tỉnh Yên Bái cho thấy nhóm nữ đồng bào dân tộc Dao cũng cởi mở hơn khi nói về QHTD so với nhóm nữ của các đồng bào dân tộc khác. Tỷ lệ nhóm nữ giới đồng bào Dao tại Yên Bái luôn sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình bất chợt nam giới trong 12 tháng qua chỉ là 10,0%. Có thể nói rằng họ hầu như không có khái niệm sử dụng BCS. Như vậy, đặc biệt với tỉnh Yên Bái cần có chiến dịch truyền thông mạnh mẽ về sử dụng BCS với bạn tình bất chợt. Bên cạnh đó cũng phải triển khai các dịch vụ cung cấp đầy đủ BCS cho nhóm đồng bào này.

Sử dụng và tiêm chích ma tuý là nguyên nhân chủ yếu làm lây truyền HIV tại Việt Nam. Lai Châu có tỷ lệ sử dụng ma tuý trong nhóm quần thể dân cư 15-49 tuổi rất cao (10,5%). Thái Nguyên, Thanh Hoá và Yên Bái có tỷ lệ người dân sử dụng ma tuý vào khoảng 2%. Điều tra xã hội học tại tỉnh Thanh Hoá cho thấy địa bàn tiến hành can thiệp và điều tra là nơi có tình hình sử dụng và buôn bán ma tuý rất phức tạp. Chính quyền địa phương cũng thấy rằng sử dụng và tiêm chích ma tuý là vấn đề nổi cộm của huyện.

Chương trình phòng chống lây truyền HIV từ mẹ sang con được Bộ Y tế quan tâm đặc biệt. Chính sách của Việt Nam là tất cả các bà mẹ mang thai bị nhiễm HIV khi sinh con được dùng thuốc điều trị để giảm lây truyền HIV từ mẹ sang con. Nhưng hầu hết tại các tỉnh được điều tra, chỉ có khoảng trên dưới một phần năm người dân tộc được phỏng vấn biết rằng có thuốc điều trị cho mẹ nhiễm HIV để giảm lây truyền sang con. Tỷ lệ người dân tộc biết có thuốc kháng vi rút điều trị cho người nhiễm có cao hơn đôi chút. Thái Nguyên là tỉnh có tỷ lệ người dân tộc Sán Chay/Sán Dìu trả lời có biết thuốc kháng vi rút điều trị cho người nhiễm HIV cao nhất (60,3%). Các tỉnh còn lại tỷ lệ này không cao.

Hầu hết những người dân được phỏng vấn trong cuộc điều tra này trả lời đã từng nhận được và nhận được trong 12 tháng qua thông tin tuyên truyền về phòng chống HIV. Nhưng chúng ta cũng cần hiểu rằng tỷ lệ này mới chỉ phản ánh một phần rất nhỏ các hoạt động tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS. Chính bởi vậy, mặc dù tỷ lệ nhận được thông tin tuyên truyền về phòng chống HIV/AIDS trong 12 tháng qua tương đối cao nhưng chỉ có một tỷ lệ rất thấp người dân biết được có thuốc điều trị làm giảm nguy cơ lây truyền HIV từ người mẹ nhiễm HIV truyền sang con của họ. Cũng chỉ có một tỷ lệ không cao người dân hiểu biết đầy đủ về HIV như đã nói ở trên.

Tỷ lệ nhóm người dân tộc của cả 11 tỉnh được điều tra có thái độ tích cực với người nhiễm HIV rất thấp. Có những tỉnh như Lai Châu trên cả nhóm nam lẫn nhóm nữ hầu như không có thái độ tích cực với người nhiễm HIV (nam giới: 3,1% và nữ giới: 1,8%). Rất nhiều người trong cuộc điều tra này vẫn cho rằng người nhiễm HIV là người phải thấy xấu hổ về bản thân mình và người nhiễm HIV là người có lỗi mang bệnh tật về cho cộng đồng. Do vậy, cần tuyên truyền giáo dục người dân hiểu biết hơn nữa về HIV/AIDS và không phân biệt đối xử với người nhiễm HIV. 

Tỷ lệ các nhóm người dân tộc trong nghiên cứu này đã từng được làm xét nghiệm cao nhất cũng chỉ gần 9,0% (Thái Nguyên) và thấp nhất là khoảng 1,0% (Khánh Hoà). Tỷ lệ người dân biết được nơi có thể làm xét nghiệm HIV của các tỉnh khác nhau cũng khác nhau. Các tỉnh có tỷ lệ người dân biết được những nơi làm xét nghiệm HIV tương đối cao là Thái Nguyên (71,6%) và Thanh Hoá (60,3%). Các tỉnh còn lại thì tỷ lệ người dân biết được nơi làm xét nghiệm HIV tương đối thấp. Thấp nhất là tại Yên Bái (14,6%). Điều này cũng phản ánh được một phần hoạt động của trung tâm TV-XN-TN phục vụ cho các đồng bào dân tộc tại các tỉnh này. Có thể nhóm người dân tộc này nằm cách xa trung tâm của tỉnh nơi đặt trung tâm TV-XN-TN nên người dân không biết được có sự tồn tại của trung tâm. Hoặc người dân biết sự tồn tại của trung tâm này nhưng do khoảng cách quá xa họ không thể đi lại để tiếp cận được.

Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người dân tộc Thái 15-49 tuổi tại tỉnh Thanh Hoá là rất cao (2,8%). Một điều tra hộ gia đình tại Thái Bình và TP Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ này chỉ là 0,4% tại Thái Bình và 0,7% tại TP Hồ Chí Minh. Cuộc điều tra này được tiến hành tại hai huyện vùng cao của Thanh Hoá là Lang Chánh và Quan Hoá là vùng có tỷ lệ người sử dụng và tiêm chích cao của Thanh Hoá.

Toàn bộ số liệu liên quan đến Lai Châu trong nghiên cứu này cho ta thấy nhóm người dân tộc H’Mông cần được quan tâm đặc biệt. Tỷ lệ người dân tộc H’Mông chưa bao giờ đến trường rất cao (76,8%). Lai Châu cũng lại là tỉnh có tỷ lệ người dân tộc đi làm xa nhà lâu hơn một tháng trong 12 tháng vừa qua cao nhất trong 11 tỉnh được điều tra (11,2%). Tỷ lệ người dân không được tiếp cận với vô tuyến, đài và báo trong tuần cũng chiếm cao nhất (33,4%). Trung vị tuổi quan hệ tình dục lần đầu cũng trẻ nhất (17 tuổi). Thêm vào đó, tỷ lệ đồng bào H’Mông đã từng sử dụng ma tuý rất cao (10,5%). Hầu như không có ai kể cả nam lẫn nữ có kiến thức đầy đủ về HIV. Tỷ lệ nam giới cũng như nữ giới đồng bào H’Mông có thái độ tích cực với người nhiễm HIV cũng thấp nhất trong các tỉnh điều tra (3,1% cho nhóm nam giới và 1,8% cho nhóm nữ giới).

V. KHUYẾN NGHỊ

Cần nghiên cứu mô hình thông tin truyền thông thay đổi hành vi phù hợp và hiệu quả cho từng nhóm dân tộc ít người về: - Cách thiết kế và thông tin truyền thông phải phù hợp với tôn giáo và tập quán văn hoá của từng dân tộc; - Ngôn ngữ phù hợp cho những người biết đọc cũng như hình ảnh dễ hiểu cho những người không biết chữ; - Với các tỉnh có tỷ lệ cao người dân đi công tác xa nhà, cần nghiên cứu các nguy cơ lây nhiễm HIV có thể gặp khi đi làm ăn xa nhà để thiết kế thông tin cho phù hợp; - Ngoài 3 phương tiện thông tin đại chúng là đài, báo, vô tuyến, cần sử dụng mạng lưới truyền thông trực tiếp qua mạng lưới giáo dục viên đồng đẳng và các tổ chức khác (mạng lưới y tế cơ sở, chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phụ nữ, trường trung học cấp II, III); và Tăng cường truyền thông sử dụng BCS.

Cần có chiến dịch truyền thông nhằm: - Tăng tỷ lệ hiểu biết đúng về HIV; - Tuyên truyền sâu rộng cho toàn bộ dân cư biết rằng nếu người mẹ nhiễm HIV sinh con thì sẽ được nhận liều thuốc miễn phí cho cả mẹ và con để làm giảm nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con; và - Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục người dân hiểu biết hơn nữa về HIV/AIDS và không phân biệt đối xử với người nhiễm HIV.

Cần có kế hoạch triển khai các dịch vụ cung cấp BCS cho nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa. Hai tỉnh Lai Châu và Yên Bái cần can thiệp vào lứa tuổi sớm hơn các tỉnh khác.

Xây dựng mô hình TV-XN-TN dành cho các đồng bào dân tộc: - Trung tâm TV-XN-TN cần đặt gần nơi đồng bào sinh sống; - Tập huấn tiêu chuẩn cho tư vấn viên; và - Tăng tỷ lệ các tư vấn viên là người dân tộc mà họ đang phục vụ. Tư vấn viên phải hiểu, nói được ngôn ngữ dân tộc, hiểu phong tục tập quán và những điều kiêng kỵ của dân tộc đó. 

Theo Tạp chí YHTH

[Quay lại]
 In trang    Đầu trang
Các tin cùng chủ đề
Cơ chế lây truyền HIV từ mẹ sang con (04/12/2012 - 10:33:30 PM)
NGUY CƠ NHIỄM HIV VÀ TÌNH HÌNH TIẾP CẬN CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG NGỪA LÂY NHIỄM HIV CỦA MẠI DÂM NAM TẠI TP. HCM, VIỆT NAM (26/11/2012 - 11:00:07 PM)
Những hiểu biết sai lầm về HIV/AIDS (23/11/2012 - 03:18:47 PM)
Ảnh hưởng của thuốc lá với người nhiễm HIV (22/11/2012 - 03:04:41 PM)
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS (21/11/2012 - 11:15:33 PM)
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ QUẬN 4, TP. HỒ CHÍ MINH (19/11/2012 - 11:46:02 PM)
Những khám phá quan trọng về điều trị HIV năm 2011 (19/11/2012 - 09:44:28 AM)
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ NHIỄM HIV (17/11/2012 - 09:36:44 AM)
NHU CẦU VÀ SỰ ĐÁP ỨNG NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO TRẺ NHIỄM HIV VÀ TRẺ BỊ ẢNH H¬ỞNG BỞI HIV/AIDS (TRẺ OVC) TẠI HUYỆN SÓC SƠN, HÀ NỘI NĂM 2011 (16/11/2012 - 11:35:20 PM)
Truyền thông để giảm thiểu sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. (13/11/2012 - 10:42:42 PM)
Dấu hiệu nhận biết nhiễm HIV/AIDS (13/11/2012 - 09:32:08 AM)
Phòng bệnh HIV/AIDS. (11/11/2012 - 10:52:07 PM)
Lần đầu có kít xét nghiệm nhanh HIV tại nhà (07/11/2012 - 09:09:12 AM)
PHÁT HIỆN RA CÁCH “ VÔ HIỆU HÓA” VIRUS AIDS (25/10/2012 - 11:01:13 PM)
Giảm tỉ lệ HIV ở gái mại dâm (25/10/2012 - 10:45:44 PM)
KỶ YẾU MỚI PHÁT HÀNH
TẠP CHÍ MỚI PHÁT HÀNH
Downdload tài liệu

Mã số tin nhắn trả về:

TRA CỨU TỪ ĐIỂN
Từ điển: 
Từ khóa:   
Đại từ điển trực tuyến
--- Liên kết website ---
LIÊN KẾT
Chung cư HH2 Linh Đàm