TẠP CHÍ Y HỌC THỰC HÀNH - BỘ Y TẾ - JOURNAL OF PRACTICAL MEDICINE Thứ 6, ngày 20/9/2019  
Kiến Thức HIV/AIDS
16/11/2012 - 11:35:20 PM
NHU CẦU VÀ SỰ ĐÁP ỨNG NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO TRẺ NHIỄM HIV VÀ TRẺ BỊ ẢNH H¬ỞNG BỞI HIV/AIDS (TRẺ OVC) TẠI HUYỆN SÓC SƠN, HÀ NỘI NĂM 2011
Trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là trẻ (OVC) rất dễ bị ảnh hưởng về sức khoẻ và tâm lý bởi HIV. Trong bối cảnh HIV đang ngày càng gia tăng hiện nay, cần có những can thiệp thích hợp để hạn chế các tác động của HIV lên trẻ.
 

TÓM TẮT:

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định các nhu cầu và sự đáp ứng các nhu cầu CSSK của trẻ OVC, đồng thời tìm hiểu những rào cản ảnh hưởng đến sự đáp ứng nhu cầu đó. Với phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng. 52 trẻ OVC từ 8-17 tuổi và 90 người chăm sóc chính cho trẻ OVC được phỏng vấn, kết hợp với PVS và TLN. Kết quả nghiên cứu: 70% trẻ đang ở độ tuổi từ 5 đến 11, tỷ lệ nam nữ là như nhau (nam 58%, nữ 42%); 49% trẻ mồ côi bố hoặc mẹ, 9% các em mồ côi cả bố lẫn mẹ. 60% người chăm sóc trẻ OVC đang sống chung với HIV/AIDS; 71% nữ giới, trong đó 54% đã góa chồng và 49% bà mẹ có HIV dương tính. Trẻ OVC có 2 nhóm nhu cầu CSSK chính: (1) Nhu cầu chăm sóc sức khỏe thể chất, (2) Nhu cầu chăm sóc sức khỏe tinh thần và xã hội. Bốn rào cản chính trong việc đáp ứng nhu cầu CSSK của trẻ OVC, gồm các rào cản về kinh tế, nhận thức của trẻ OVC và người chăm sóc trẻ, sự kỳ thị và phân biệt đối xử với trẻ OVC và gia đình trẻ, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế tại địa phương.

Từ khoá: HIV, trẻ OVC, nhu cầu, rào cản.

SUMMARY:

Children are vulnerable subjects, especially children (OVC) are susceptible to health and psychology by HIV. In the context of HIV are increasing today, there should be appropriate interventions to reduce the impact of HIV on children. Study objectives: Identify the needs and meet the health care needs of OVC, and explore the barriers affecting the demand. With the method of cross-sectional descriptive study combined qualitative and quantitative. 52 OVC aged 8-17 years and 90 primary care for OVC interviewed, combined with the deep interview and focus group discussion. Research results: 70% of children aged 5 to 11, the proportion of girl and boy are equal (male 58%, female 42%); 49% lossed mother or father, 9% of the orphans father and mother. 60% of people who take care of OVC living with HIV / AIDS; 71% of women, of which 54% were widowed and 49% of HIV-positive mothers. OVC have 2 groups primary health care needs: (1) physical health care needs, (2) the demand for mental health care and society. Four main barriers in meeting the health care needs of OVC, including economic barriers, awareness of OVC and caregivers on HIV/AIDS, stigma and discrimination OVC and their families, access to health services locally.

Keywords: HIV, OVC, need, barrier.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bảo vệ, chăm sóc trẻ em là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới, Việt Nam là nước đầu tiên tại Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới đã phê chuẩn công ước BVTE ngày 20 tháng 02 năm 1990.[1].

Đại dịch HIV/AIDS là một vấn nạn của toàn thế giới, ảnh hưởng đến nhiều đối tượng, trong đó trẻ em là đối tượng phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề. Năm 2008, toàn thế giới đã có tới 430.000 trẻ em sinh ra bị nhiễm HIV. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Bộ Y tế tính đến năm 2009, tổng số trẻ em phát hiện có HIV (+): 4.121 em, trong đó có 1.876 em đang  được điều trị ARV, tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con là 0,25% và sẽ tăng lên 35% nếu không được can thiệp. Trẻ nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS (Orphan and Vulnerable Children - OVC) bao gồm các đối tượng: Trẻ em nhiễm HIV và Trẻ em có nguy cơ cao nhiễm HIV: trẻ em mồ côi do bố và mẹ hoặc bố hoặc mẹ chết vì những lý do liên quan đến HIV/AIDS, ...

Sóc Sơn là 1 huyện phía bắc Hà Nội, với diện tích 313 km2 địa bàn rộng gồm 25 xã và 1 thị trấn, dân số trung bình năm 2009 là 290.000 người; Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tỷ trọng ngành dịch vụ tăng, ngành nông nghiệp giảm. Sóc Sơn là huyện còn nhiều khó khăn nhưng  có tốc độ phát triển khá nhanh, ổn định [5].

Trẻ OVC thường dễ bị suy dinh dưỡng, dễ bị tổn thương tâm lý, thiếu hụt tình cảm, bị phân biệt đối xử, bóc lột lao động, lạm dụng tình dục, .. Những yếu tố này đặt trẻ OVC vào nguy cơ to lớn của việc mất đi sự chăm sóc từ gia đình, bị đưa vào các trung tâm bảo trợ xã hội và bị đẩy vào những hành vi nguy cơ như bị lạm dụng tình dục, lạm dụng sức lao động và sử dụng ma tuý. Vì vậy việc có những can thiệp nhằm giảm thiểu những nguy cơ cho trẻ OVC là rất cần thiết. Để cung cấp các bằng chứng cho bản đề xuất kế hoạch can thiệp hiệu quả cho trẻ OVC và hỗ trợ gia đình của trẻ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS (trẻ OVC) tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội năm 2011 "với 2 mục tiêu:

Mục tiêu nghiên cứu

1. Xác định các nhu cầu và đánh giá sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của trẻ nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS (trẻ OVC) và gia đình đang chăm sóc trẻ OVC tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội năm 2011.

2. Tìm hiểu những rào cản ảnh hưởng đến sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội năm 2011.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu, cỡ mẫu và chọn mẫu

- Phỏng vấn bằng bảng hỏi cấu trúc đối với 52 trẻ OVC từ 8-17 tuổi và 90 người chăm sóc chính cho trẻ OVC.

- PVS 14 đại diện hộ gia đình đang chăm sóc trẻ nhiễm HIV tại nhà.

- TLN 08 cán bộ các ban ngành đoàn thể liên quan đến công tác chăm sóc bảo vệ trẻ em,  05 Nhân viên y tế liên quan đến chăm sóc sức khỏe cho trẻ OVC và các Bác sỹ của Trung tâm y tế  dự phòng huyện Sóc Sơn, của huyện và.12 Cán bộ chăm sóc tại nhà cho trẻ OVC trong nhóm Hoa Sim Tím (nhóm của những người sống chung với HIV/AIDS)

Mẫu nghiên cứu: Nghiên cứu chọn toàn bộ trẻ em bị nhiễm hoặc có bố mẹ bị nhiễm HIV/AIDS tại huyện Sóc Sơn và những người chăm sóc chính các em.

2 Địa điểm và thời gian: NC được tiến hành tại Thái Nguyên từ tháng 11/2010 – 4/2011.

3. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng 

4.  Phương pháp thu thập số liệu

- Bảng hỏi cấu trúc có sẵn cho 02 đối tượng là Người chăm sóc chính cho trẻ OVC trong gia đình  và Trẻ OVC (độ tuổi từ 8-17 tuổi);

- Hướng dẫn phỏng vấn sâu dành cho 14 đại diện gia đình đang chăm sóc trẻ nhiễm HIV/AIDS (độ tuổi 0- 17 tuổi);

- Thảo luận nhóm trọng tâm (dành cho những cán bộ và nhân viên đang làm việc tại các cơ quan cung cấp dịch vụ và chăm sóc sức khỏe cho trẻ OVC, đang làm việc cho dự án của tổ chức HRI tại huyện Sóc Sơn.

5.  Phương pháp phân tích số liệu: Số liệu được làm sạch và nhập bằng phần mềm Epidata, phân tích bằng phần mềm SPSS đối với số liệu định lượng, các cuộc PVS và TLN được ghi âm lại và gỡ băng để làm các dẫn chứng trong phần kết quả

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Thông tin về trẻ OVC: Phần lớn trẻ đang ở độ tuổi từ 5 đến 11 (70%), tỷ lệ nam nữ là như nhau (nam 58%, nữ 42%), đa số trẻ OVC tại huyện Sóc Sơn có trình độ học vấn thấp, đa số có trình độ học vấn cấp 1 (nam: 42,9%; nữ 50%), vẫn còn 3 trẻ nam không đi học. Gần một nửa trẻ OVC (49%) là trẻ mồ côi bố hoặc mẹ, trong đó đến 98%  là mồ côi bố, 9% các em mồ côi cả bố lẫn mẹ, trong số trẻ mồ côi thì phần lớn sống với ông bà hoặc với cả mẹ và ông bà. Điều này cũng đúng với truyền thống của người Việt Nam là góa phụ vẫn sẽ chung sống cùng với bố mẹ anh chị em đằng nhà chồng nếu chồng qua đời.

Thông tin về người chăm sóc trẻ: 60% đang sống chung với HIV/AIDS;  71%  người chăm sóc trẻ là nữ giới, trong đó 54% đã góa chồng và 49% bà mẹ có HIV dương tính. Đa số người chăm sóc trẻ trình độ học vấn cấp 2 (nam: 57,9%; nữ 50%). Người chăm sóc chủ yếu ở độ tuổi 25 -35 (nam: 47,4%; nữ 55,7%). Vẫn còn 11 người (nam: 15,9%; nữ 11,4%) trên độ tuổi lao động 56-77 theo quy định của pháp luật, đây là một trong những yếu tố dẫn đến sự hạn chế đối với việc chăm sóc trẻ OVC. Nghề nghiệp của người chăm sóc trẻ OVC đa dạng, nhưng chủ yếu là nông dân với tỷ lệ 46%. Phần lớn những người có thu nhập trong gia đình đang chăm sóc trẻ OVC là nữ giới.

2. Các nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của trẻ OVC và gia đình đang chăm sóc trẻ.

2.1. Nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc dinh dưỡng của trẻ OVC:

3/3 trường hợp có HIV và đã sinh con cho biết họ được kết nối tới chương trình PMTCT tại Bệnh viên Phụ Sản Hà Nội từ tháng thứ 3 của thai kì, sau đó được điều trị dự phòng ARV và được cung cấp sữa thay thế sữa mẹ sau khi sinh cho đến khi trẻ được 18 tháng. Kết quả khảo sát của các trường hợp khác cho thấy rằng trung bình, trẻ ăn đủ 3 bữa một ngày. 49% trẻ OVC trả lời lúc nào cũng có đầy đủ lương thực, trong khi hầu hết những người chăm sóc các em lại nói rằng các em hầu hết chỉ có đủ no, chất lượng lương thực không đảm bảo.

Trong số những người chăm sóc trẻ, có 19% nói là nhận được một số hỗ trợ về dinh dưỡng, trong đó hỗ trợ từ các nhóm tự lực là 56%, 31% được nhận từ Nhà nước. Hình thức hỗ trợ dinh dưỡng phổ biến nhất là sữa (82%) và gạo (38%).

Phần lớn người chăm sóc trẻ đều biết nhu cầu chăm sóc dinh dưỡng của trẻ sống chung với HIV/AIDS. Một bà mẹ 28 tuổi đang chăm sóc con bị nhiễm HIV cho biết "Nhiều khi mà cháu ốm đau thì cái chất dinh dưỡng nó cũng cần khác hơn so với bình thường hàng ngày. Ví dụ như là khi mà cháu mệt mỏi, trẻ không muốn ăn hay trẻ muốn ăn một cái gì đấy thì mình sẽ đáp ứng cái nhu cầu của trẻ và chế biến những cái mà trẻ muốn ăn hơn thì kích thích trẻ ăn nhiều hơn là chỉ luôn thay đổi món ăn cho trẻ hàng ngày".

Tuy nhiên do điều kiện kinh tế khó khăn, bố mẹ phải đi làm cả ngày nên việc đáp ứng đúng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ OVC vẫn còn hạn chế. Một ông bố 30 tuổi cho biết: "Bữa trưa thì thường thường phải ăn cơm rồi, thực ra thì bây giờ nhà cũng không có điều kiện vì bố mẹ đi làm hết cả cứ ăn ở nhà với ông bà có cái gì thì ăn cái đấy chứ nhiều lúc bố mẹ về có thêm trứng hay là mua thêm cho cháu các cái thực phẩm có chất dinh dưỡng như trứng, thịt, cá thay đổi cho cháu chứ thực ra cháu chỉ có 1 bữa gọi là đủ chất dinh dưỡng thôi chứ còn bữa trưa bây giờ ông bà ăn gì cháu ăn nấy".

2.2 Nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc y tế của trẻ OVC:

37% trẻ OVC cho biết mình có sức khoẻ tốt, 33% trả  lời “bình thường”. Trong khi đó 51% người chăm sóc trẻ cho sức khỏe của con em mình ở diện “bình thường”. Nhiều người chăm sóc lo ngại sức khỏe của chính họ có thể cũng là một trở ngại trong việc chăm sóc con em mình.

Có 94,4% trẻ OVC biết về HIV nhưng biết chưa đầy đủ. Một bà mẹ 28 tuổi cho biết: "Hiện tại thì cháu cũng chỉ biết qua qua chứ còn nói về kiến thức sâu thì cháu cũng chưa hiểu lắm. Cháu chỉ biết ý thức của cháu bị cái bệnh đấy, cháu duy trì uống thuốc vì uống thuốc sẽ duy trì được sự sống của cháu chứ còn cháu chỉ ý thức được cái đấy gọi là nó hiểu nông chứ không hiểu sâu".

Trong vòng 1 tháng trước phỏng vấn, có 39,1% trẻ OVC bị ốm. Khi đến cơ sở khám chữa bệnh, thái độ của bác sỹ khám bệnh là thân thiện gần gũi, bình thường với tỷ lệ lần lượt là 22,7 % và 77,3%, không có trường hợp nào bị coi thường, ghét bỏ.

Chi phí y tế mà các gia đình phải chịu chủ yếu là chi phí đi lại và chi phí thuốc men, trung bình 1 tháng các gia đình chi 278,000 đồng để mua thuốc, 67% số tiền này là dành cho thuốc kháng sinh – loại thuốc không được bảo hiểm hỗ trợ cho trẻ dưới 6 tuổi. Rất nhiều người chăm sóc trẻ OVC đã phải vay nợ lãi để có tiền chi tiêu thuốc men cho trẻ OVC. 

2.3. Nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc giáo dục

Mặc dù những người trả lời phỏng vấn đều phản ánh các trường hợp trẻ bị xa lánh và bị phân biệt đối xử tại lớp học, song hầu hết số trẻ (94%) được đi học trong năm 2011. Chỉ có 28% người chăm sóc trẻ nhận được sự hỗ trợ về giáo dục. Họ cho biết nguồn hỗ trợ tài chính cho các em đi học của Chính phủ chỉ được dành cho các hộ gia đình nghèo (thông qua kênh của Hội Chữ thập đỏ), không dành cho trẻ đang phải sống chung hoặc chịu ảnh hưởng bởi HIV/AIDS – mặc dù đó là những hỗ trợ hợp pháp. Nhiều trẻ OVC khi chuyển sang tuổi 18 mong muốn được đi học nghề và có việc làm tại địa phương huyện Sóc Sơn.

2.4. Nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc tâm lý

60% người chăm sóc trẻ OVC cho biết họ cần sự giúp đỡ về tâm lý từ những nơi cung cấp dịch vụ tư vấn tâm lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy 75% người chăm sóc thường được chia sẻ trong nội bộ gia đình, 29% chia sẻ với các nhóm tự lực của người sống chung với HIV. Chỉ có 6% người chăm sóc tìm kiếm sự giúp đỡ từ các cơ sở công cộng như bệnh viện, trường học, có lẽ do những cơ sở này không hỗ trợ tư vấn tâm lý nhiều hoặc vì họ sợ mọi người sẽ kỳ thị, phân biệt đối xử khi biết mình bị nhiễm HIV.

Đa số người chăm sóc trẻ OVC dành quá nhiều thời gian làm việc để hỗ trợ thu nhập kinh tế cho gia đình nên không có thời gian chơi cùng trẻ, đọc sách cho trẻ nghe và giải đáp các thắc mắc cho trẻ. 96% trẻ OVC cho biết vẫn kết bạn với hàng xóm và chơi với các bạn ở trường. Vào thời gian rảnh, các em bé tuổi nhỏ hơn chơi đồ chơi, 29% trẻ lớn tuổi hơn (12-17 tuổi) làm những công việc nội trợ (nấu nướng, dọn dẹp và giặt giũ).

44% trẻ OVC cho biết đôi khi các em lo sợ và 51%  trẻ OVC cho biết là  thông thường các em có thái đội vui vẻ. Khi có chuyện buồn, các em ít chia sẻ với bạn bè và thầy cô vì ngại mọi người biết hoàn cảnh của mình, các em thường chia sẻ với mọi người trong gia đình, đặc biệt là người chăm sóc. 66% trẻ cho biết mẹ mình là người “hiểu các em nhất trong nhà.”

Hầu hết các em mong muốn sau này làm bác sĩ (26%), 23% muốn làm giáo viên, điều này có thể lý giải do trẻ OVC thường lớn lên trong hoàn cảnh đau ốm và chết chóc khi bản thân trẻ cũng bị mặc cảm và có khi tự kỳ thị mình, nên có thể các em muốn trở thành bác sĩ vì các em tin sau này mình có thể cứu chữa cho mọi người trong nhà.

Bảng 1: Thái độ của hàng xóm, bạn bè xung quang và thầy cô với trẻ OVC

Thái độ

Hàng xóm

Bạn bè xung quanh

Thầy cô

n

%

n

%

n

%

Thân thiện gần gũi

12

14.5

10

11.9

14

16.7

Bình thường

71

85.5

74

88.1

70

83.3

Coi thường ghét bỏ

Không có trường hợp nào coi thường, ghét bỏ

 Nhận xét: Bảng trên cho thấy đa số hàng xóm, bạn bè và thầy cô đều có thái độ bình thường đối với trẻ OVC, không có đối tượng nào có thái độ coi thường ghét bỏ đối với trẻ.

3. Những rào cản trong việc đáp ứng nhu cầu CSSK của trẻ OVC

3.1. Rào cản về điều kiện  kinh tế 

70% người có thu nhập trong hộ là nữ, 14% số người chăm sóc trẻ OVC cho biết họ có thu nhập dưới 400.000 VND/tháng, dưới mức chuẩn nghèo mới được đề xuất gần đây đối với khu vực đô thị. Phần lớn các hộ (66%) chỉ có duy nhất một người có thu nhập. Họ cho biết thu nhập không đủ trang trải các chi phí cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng, học hành và y tế, đặc biệt là khi gia đình có một hoặc hai người đau ốm. Thực tế trẻ OVC phải đi làm thêm lấy tiền chi trả học phí (50%) và quần áo (17%). Khi được hỏi các em chia sẻ những lo ngại về việc kinh tế khó khăn sẽ dẫn đến mâu thuẫn, căng thẳng trong gia đình, đặc biệt khi phải chi tiêu cho ăn uống, thuốc men, học hành; Kinh tế khó khăn cũng khiến các em phải chứng kiến cảnh bố mẹ cãi nhau, hoặc bố mẹ mải kiếm tiền mà không quan tâm, trò chuyện với các em.

Về sự hỗ trợ kinh tế, 36 % người chăm sóc cho biết có nhận được một số hình thức hỗ trợ kinh tế: 90% từ trợ cấp/đền bù xã hội, 74% từ nhà nước, 23% từ các tổ chức cộng đồng.

3.2. Rào cản về nhận thức của trẻ OVC và người chăm sóc trẻ

Kết quả NC cho thấy giữa người chăm sóc và trẻ OVC có sự khác biệt về nhận thức thế nào là “đủ thực phẩm dinh dưỡng” Sự khác biệt này có lẽ liên quan đến chất lượng bữa ăn hơn là số lượng; phần lớn các em (81%) cho biết các em ăn 3 bữa một ngày, 12% các em tuổi từ 5-11 ăn nhiều hơn 3 bữa một ngày.

Theo kết quả NC, hiện nay chưa có những hướng dẫn cụ thể về chế độ dinh dưỡng cho trẻ em nhiễm HIV/AIDS; Kiến thức về dinh dưỡng và quá trình phát triển của trẻ OVC của người chăm sóc còn hạn chế.

3.3. Rào cản về kỳ thị và phân biệt đối xử với trẻ OVC và gia đình trẻ

Kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn là trở ngại lớn khiến cho người chăm sóc và trẻ OVC gặp khó khăn. Một số người chăm sóc tránh không yêu cầu hỗ trợ giáo dục hoặc hỗ trợ tài chính cho con em mình để tránh bị cộng đồng kỳ thị, bởi muốn được hỗ trợ thì sẽ phải công khai tình trạng HIV. Tại một sân chơi dành riêng cho trẻ chung sống và bị ảnh hưởng bởi HIV, một cán bộ vận động giáo dục truyền thông của Hội Phụ Nữ tình cờ nghe được một bà mẹ chung sống với HIV nói: “Đừng có để con chơi ở đây nếu không muốn nó bị lây nhiễm”

Một số người chăm sóc giấu không cho con em mình biết tình trạng HIV và có người không chịu cho con đi xét nghiệm, chính vì thế nhiều em không được chăm sóc và/hoặc hỗ trợ tâm lý đầy đủ. Khoảng 60% người chăm sóc cho biết họ bị kỳ thị và phân biệt đối xử và 14% giấu không tiết lộ tình trạng bệnh của mình.

3.4. Rào cản về  khả năng tiếp cận dịch vụ y tế tại địa phương

Chi phí đi lại tốn kém cộng với việc thường xuyên phải đến cơ sở KCB để thăm khám cũng gây khó khăn cho trẻ OVC và gia đình trẻ trong việc trong việc theo dõi sức khỏe/điều trị các bệnh thường gặp và bệnh HIV/AIDS.

Về mức độ tiếp cận các dịch vụ y tế hiện có, 67% người chăm sóc cho rằng mức độ tiếp cận họ ở mức “bình thường,” 27% ở mức “tốt.”

Về chi phí khám chữa bệnh và mua thuốc, 82% ngươi chăm sóc cho biết họ có thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi, tuy nhiên thẻ bảo hiểm không chi trả các loại thuốc theo đơn, thuốc đắt tiền mà trẻ thường xuyên phải dùng như thuốc kháng sinh hoặc phí tư vấn cho bệnh nhân ngoại trú. Chính vì vậy nhiều gia đình phải đi vay nợ lãi mỗi khi con cái bị ốm, thậm chí phải bán tài sản để chi trả các chi phí liên quan đến y tế.

Về phương tiện đi lại tới các cơ sở y tế, 34% số người được hỏi cho biết họ đi bằng xe máy, 28% đi xe ôm, 20% sử dụng phương tiện giao thông công cộng, và 13% đi bằng xe đạp. Những người chăm sóc trẻ OVC ở gần trung tâm huyện Sóc Sơn mất ít thời gian để đến các cơ sở y tế hơn so với các xã ở xa Thị trấn, trẻ OVC ở các xã này thường đến bệnh viện A Thái Nguyên.

Một số rào cản và khó khăn khác mà trẻ OVC và gia đình phải đối mặt, bao gồm: Sức khỏe của người chăm sóc trẻ OVC và nỗi sợ mất mát; Rào cản trong việc đáp ứng nhu cầu giáo dục và học tập; Rào cản về sự đáp ứng nhu cầu tâm lý của trẻ OVC.

KẾT LUẬN

70% trẻ đang ở độ tuổi từ 5 đến 11,tỷ lệ nam nữ là như nhau (nam 58%, nữ 42%); 49% trẻ mồ côi bố hoặc mẹ, 9% các em mồ côi cả bố lẫn mẹ.

60% người chăm sóc trẻ OVC đang sống chung với HIV/AIDS; 71% nữ giới, trong đó 54% đã góa chồng và 49% bà mẹ có HIV dương tính. Nghề nghiệp của người chăm sóc trẻ OVC đa dạng, nhưng chủ yếu là nông dân với tỷ lệ 46%.

Trẻ OVC có 2 nhóm nhu cầu CSSK chính: (1) Nhu cầu chăm sóc sức khỏe thể chất với 2 nhu cầu chính là CS dinh dưỡng và CS y tế. (2) Nhu cầu chăm sóc sức khỏe tinh thần và xã hội bao gồm các nhu cầu: Chăm sóc tâm lý, giáo dục, và nhu cầu được bảo vệ: pháp lý, khỏi bị phân biệt đối xử, bị kỳ thị và bị lạm dụng, ngược đãi và bảo đảm có nơi ở an toàn.

Có 4 rào cản chính trong việc đáp ứng nhu cầu CSSK của trẻ OVC, bao gồm: Rào cản về kinh tế; Rào cản về nhận thức của trẻ OVC và người chăm sóc trẻ; Rào cản về kỳ thị và phân biệt đối xử với trẻ OVC và gia đình trẻ; Rào cản về  khả năng tiếp cận dịch vụ y tế tại địa phương.

Tình trạng bị xa lánh và phân biệt đối xử được đề cập nhiều nhất ở trường học, tuy nhiên hầu hết các em đều được đi học. Việc lo sợ bị xa lánh và kỳ thị khi tiết lộ tình trạng HIV đã ngăn cản việc người chăm sóc trẻ OVC đưa các em đi xét nghiệm HIV.

Chính phủ là nguồn hỗ trợ chính về tài chính và giáo dục cho trẻ OVC, các nhóm tự lực và các tổ chức cộng đồng hỗ trợ các em về dinh dưỡng và tâm lý/ tình cảm.

Khuyến nghị.

1.  Tăng cường chường trình giáo dục cho đối tượng OVC và người chăm sóc chính về kiến thức phòng chống HIV/AIDS.

2.  Có giải pháp tháo gỡ 3 rào cản còn lại cho việc sử dụng dịch vụ y tế về rào cản về kinh tế nên có chế độ trợ cấp hỗ trợ việc làm cho gia đình trẻ OVC; Rào cản về kỳ thị và phân biệt đối xử với trẻ OVC và gia đình trẻ cần giáo dục cho cộng đồng đặc biệt thầy cô, học sinh ở trường học về kiến thức HIV/AIDS và luật phòng chống HIV/AIDS ; Rào cản về  khả năng tiếp cận dịch vụ y tế tại địa phương cần cử cán bộ y tế tư vấn đầy đủ cho người chăm sóc và các em về các nội dung chăm sóc sức khỏe dinh dưỡng, điều trị bệnh cơ hội...

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Bộ Y tế (1996), Quy định chuyên môn về xử lý nhiễm HIV/AIDS ban hành kèm theo Quyết định số 2557/QĐ-BYT ngày 26/12/1996 của Bộ Y tế.

2.    France-lert, Nguyễn Thị Thiềng, Lưu Thị Bích Ngọc và CS (2010), “Trẻ em nhiễm HIV ở Việt Nam: Các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến tiếp cận chăm sóc y tế”, Tài liệu Hội nghị khoa học quốc gia về HIV/AIDS lần thứ 4.

3.    Đàm Thị Thanh Hoa, Nguyễn Thu Anh, Dư, Saul Helfenbein và CS (2010), “Khảo sát nhu cầu việc làm và năng lực của người sống chung với HIV và người sau cai tại Hà Nội, Tài liệu Hội nghị khoa học quốc gia về HIV/AIDS lần thứ 4.

4.    Lisa Messersmith, Lora Sabin, Trần Lan Anh và CS (2010), “Khả năng tiếp cận và cải thiện chất lượng các dịch vụ y tế và xã hội cho phụ nữ sống chung với HIV/AIDS tại Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh”, Tài liệu Hội nghị khoa học quốc gia về HIV/AIDS lần thứ 4.

5.          Ủy ban nhân dân huyện Sóc Sơn (2009), Báo cáo số 399/BC-UBND ngày 15/12/2009 của UBND huyện Sóc Sơn về tình hình kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng năm 2009, những nhiệm vụ trọng tâm năm 2010.

6.    Join forces against HIV - Shareyour heart for the children (2009), A guide to “National plan of action for children affected by HIV and AIDS until 2010, with a vision to 2020”, Ha Noi.

7.    Unicef (2010), An Analysis of the situation of children in Viet Nam 2010, Executive Summary.

8.   Usaid (2009), Social work for children living with and affected by HIV/AIDS, Ha Noi

9.    Usaid (2008), “The care and protection of children infected and affected by HIV in Viet Nam: IN SEARCH OF PROMISING PRACTICES”

Theo Tạp Chí YHTH - 11/2012
[Quay lại]
 In trang    Đầu trang
Các tin cùng chủ đề
Cơ chế lây truyền HIV từ mẹ sang con (04/12/2012 - 10:33:30 PM)
NGUY CƠ NHIỄM HIV VÀ TÌNH HÌNH TIẾP CẬN CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG NGỪA LÂY NHIỄM HIV CỦA MẠI DÂM NAM TẠI TP. HCM, VIỆT NAM (26/11/2012 - 11:00:07 PM)
Những hiểu biết sai lầm về HIV/AIDS (23/11/2012 - 03:18:47 PM)
Ảnh hưởng của thuốc lá với người nhiễm HIV (22/11/2012 - 03:04:41 PM)
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS (21/11/2012 - 11:15:33 PM)
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ QUẬN 4, TP. HỒ CHÍ MINH (19/11/2012 - 11:46:02 PM)
TỶ LỆ NHIỄM HIV, GIANG MAI VÀ CÁC HÀNH VI NGUY CƠ GÂY NHIỄM HIV TRONG NHÓM ĐỒNG BÀO DÂN TỘC ÍT NGƯỜI TẠI VIỆT NAM (19/11/2012 - 11:25:18 PM)
Những khám phá quan trọng về điều trị HIV năm 2011 (19/11/2012 - 09:44:28 AM)
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ NHIỄM HIV (17/11/2012 - 09:36:44 AM)
Truyền thông để giảm thiểu sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. (13/11/2012 - 10:42:42 PM)
Dấu hiệu nhận biết nhiễm HIV/AIDS (13/11/2012 - 09:32:08 AM)
Phòng bệnh HIV/AIDS. (11/11/2012 - 10:52:07 PM)
Lần đầu có kít xét nghiệm nhanh HIV tại nhà (07/11/2012 - 09:09:12 AM)
PHÁT HIỆN RA CÁCH “ VÔ HIỆU HÓA” VIRUS AIDS (25/10/2012 - 11:01:13 PM)
Giảm tỉ lệ HIV ở gái mại dâm (25/10/2012 - 10:45:44 PM)
KỶ YẾU MỚI PHÁT HÀNH
TẠP CHÍ MỚI PHÁT HÀNH
Downdload tài liệu

Mã số tin nhắn trả về:

TRA CỨU TỪ ĐIỂN
Từ điển: 
Từ khóa:   
Đại từ điển trực tuyến
--- Liên kết website ---
LIÊN KẾT
Chung cư HH2 Linh Đàm