TẠP CHÍ Y HỌC THỰC HÀNH - BỘ Y TẾ - JOURNAL OF PRACTICAL MEDICINE Chủ nhật, ngày 26/6/2022  
Các bệnh chuyên khoa
13/06/2017 - 01:04:55 PM
Hiện tượng đáp ứng tăng huyết áp cấp tính ở bệnh nhân xuất huyết não giai đoạn cấp
YHTH - Tai biến mạch máu não là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu chỉ đứng sau bệnh tim mạch và ung thư. Ở Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng 500.000-750.000 bệnh nhân tai biến mạch máu não mới và tái phát.

   
    Ở Pháp, mỗi năm có 130.000 trường hợp tai biến mạch máu não và đó là nguyên nhân của 40.000 người tử vong và 30.000 người bị tàn phế nặng nề. Nguy cơ tái phát trong 5 năm ước tính trong khoảng 30-43%. Tai biến mạch máu não cấp thường do nhồi máu não (khoảng 85% số trường hợp).

Phần lớn bệnh nhân tai biến mạch máu não (trong đó có xuất huyết não) có huyết áp (HA) tăng song đa số trường hợp huyết áp sẽ giảm tự nhiên trong 3- 5 ngày đến 10 ngày đầu mà không cần dùng thuốc chống tăng huyết áp. Do đó, việc dùng thuốc điều trị tăng huyết áp (THA) trong tai biến mạch máu não giai đoạn cấp có ảnh hưởng đến diễn biến và tiên lượng bệnh, đôi khi lại gây bất lợi cho bệnh nhân. Trên thực tế lâm sàng, phần lớn những bệnh nhân nhồi máu não vào viện có tăng huyết áp đều được dùng thuốc ngay trong giai đoạn cấp không kể mức độ huyết áp như thế nào. Vì thế, nhiều ý kiến cho rằng, để chọn thời điểm dùng thuốc hạ huyết áp hợp lý, đạt hiệu quả, giảm biến chứng tụt huyết áp do tác dụng của thuốc cần thiết phải theo dõi huyết áp thường xuyên trong giai đoạn cấp để đánh giá biến đổi huyết áp và phân biệt được bệnh nhân có tăng huyết áp từ trước hay là đáp ứng tăng huyết áp khi bị xuất huyết não.

Biến đổi HA và đáp ứng THA cấp tính trong giai đoạn cấp của TBMMN nói chung và xuất huyết não nói riêng hiện nay cũng chưa được hiểu biết một cách đầy đủ và đang được một số nghiên cứu đề cập.

Theo Adnan I. Qureshi, Trung tâm Nghiên cứu Đột quỵ của Trường Đại học Minnesota Hoa Kỳ, đáp ứng THA cấp tính là khi HA tăng hơn giới hạn bình thường và giá trị trước đó xảy ra sớm trong vòng 24 giờ đầu sau khi khởi phát đột quỵ. Hiện tượng này được ghi nhận > 60% số bệnh nhân đột quỵ từ một nghiên cứu quốc gia của Hoa Kỳ. Tuy nhiên tỷ lệ này phụ thuộc vào bệnh nhân được chọn, thiết kế nghiên cứu, mẫu tham chiếu và định nghĩa được sử dụng. Trong báo cáo của 18 nghiên cứu thì có 52% số bệnh nhân đột quỵ có đáp ứng THA cấp lúc nhập viện. Huyết áp mới khởi phát cao ở những bệnh nhân không có tiền sử THA được ghi nhận ở 20% bệnh nhân đột quỵ và 8% trong dân số.   

Huyết áp có xu hướng giảm tự phát so với lúc vào 20mmHg cho huyết áp tâm thu và 10mmHg cho HATTr (20/10 mmHg) trong vòng 10 ngày đầu sau đột quỵ cấp dù không dùng bất kỳ thuốc điều trị nào. Nghiên cứu Glycine Antagonist in Neuroprotection International Trial trên 1455 BN đột quỵ cấp nhập viện sau 6 giờ khởi phát triệu chứng, HA được đo bằng máy thuỷ ngân ở các thời điểm ngay khi nhập viện, sau 30 phút 4, 12, 12.25, 60 và 60.25 giờ, kết quả cho thấy HATB giảm dần trong vòng 60 giờ, bất chấp giá trị HATB ban đầu, với chủ yếu giảm trong vòng 10 giờ sau lần đo đầu tiên ngay khi nhập viện.

Thử nghiệm lâm sàng SCAST (Scandinavian Candesartan Acute Stroke Trial) đa trung tâm ở Na Uy và Vương quốc Anh trên 2029 BN đột quỵ cấp trong 30 giờ đầu có HATT 140 mmHg. Điều trị candesartan được tiến hành trong 7 ngày. Sự thay đổi HA được xác định là sự khác biệt HATT ban đầu với HATT ngày 2 và được sử dụng để chia bệnh nhân thành nhóm tăng/không thay đổi, nhóm giảm ít giảm vừa hoặc giảm nhiều. Đánh giá hậu quả ban đầu là những biến cố có hại sớm (đột quỵ tái phát, đột quỵ tiến triển và giảm HA triệu chứng kéo dài trong 7 ngày đầu). Đánh giá hậu quả thứ phát là tình trạng thần kinh vào ngày thứ 7 và hậu quả chức năng sau 6 tháng. Kết quả cho thấy BN có giảm mạnh hoặc tăng/không thay đổi HATT làm tăng có ý nghĩa nguy cơ biến cố xấu xuất hiện sớm hơn là bệnh nhân có giảm HA ít (OR, 2,08; 95% CI, 1,19-3,65 và OR 1,96; 95%CI, 1,13-3,38). Bệnh nhân có tăng/không thay đổi HATT sẽ tăng có ý nghĩa nguy cơ biến chứng thần kinh xấu hơn là các nhóm khác. Kết quả từ nghiên cứu này gợi ý rằng HA giảm có thể gây hại và rằng thói quen điều trị giảm HA có lẽ nên tránh trong GĐ cấp.

Mức độ HA trong giai đoạn cấp của nhồi máu não cũng ảnh hưởng tới quá trình tổn hại thần kinh. Nghiên cứu của Toyoda và cs tại Nhật Bản, đo HA 6 giờ một lần trong 36 giờ đầu sau khi nhập viện cấp cứu trên 565 bệnh nhân (347 nam, tuổi TB 70±11) bị nhồi máu não cấp trong vòng 24 giờ. Tổn hại thần kinh được xác định tăng 2 điểm của thang điểm NIHSS vào tuần thứ 3 so với lúc vào viện. Kết quả cho thấy vào tuần thứ 3 có 64 BN (11,3%) có tổn hại thần kinh. Vào thời điểm 24 giờ tỷ suất tổn hại thần kinh tăng lên 20% khi HATT tăng 10 mmHg.

Một số tác giả trong nước cũng nhận thấy rằng HA giảm một cách tự nhiên, có một số bệnh nhân có thể trở về bình thường sau 3-5 ngày trong giai đoạn cấp mà không phải dùng thuốc điều trị.

Khi theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ vào ngày 2 và ngày 7 để xác định hiện tượng huyết áp giảm tự nhiên chúng tôi nhận thấy đo bằng máy lưu động lúc khởi động máy, sau 5 ngày trong giai đoạn cấp huyết áp giảm tự nhiên không cần dùng thuốc 17,7/10,4 mmHg nghĩa là giảm từ 150,6/97,6 mmHg xuống còn 132,9/87,2 mmHg. Kết quả đo lưu động 24 giờ huyết áp tâm thu trung bình ban ngày, HATT trung bình ban đêm, HATT trung bình 24 giờ ngày thứ 7 thấp hơn có ý nghĩa so với huyết áp ngày thứ 2 (p < 0,05).       

Huyết áp tâm thu giảm một cách tự nhiên không cần dùng thuốc lần lượt 6,8±10;7,6±15,1; 6,7±9,4 mmHg cho chu kỳ ban ngày, ban đêm và 24 giờ.

HATTr trung bình ban ngày, HATTr trung bình ban đêm, HATTr trung bình 24 giờ ngày thứ 7 thấp hơn có ý nghĩa so với huyết áp ngày thứ 2 (p < 0,05).    

Huyết áp tâm trương giảm một cách tự nhiên không cần dùng thuốc lần lượt 4,0±6,7; 5,2,6±11,9; 4,2±6,8 mmHg cho chu kỳ ban ngày, ban đêm và 24 giờ.

Sau 5 ngày vào viện huyết áp giảm tự nhiên khi đo bằng huyết áp lưu động 24 giờ lần lượt 6,8/4,0 mmHg, 7,6/5,2 mmHg và 6,7/4,2 mmHg cho chu kỳ ban ngày, ban đêm và 24 giờ.

BBT.YHTH

[Quay lại]
 In trang    Đầu trang
Các tin cùng chủ đề
Kỹ thuật lọc máu hiện đại: cuộc cách mạng trong hồi sức (26/06/2017 - 08:47:38 AM)
Những hướng tiếp cận triển vọng trong điều trị mộng mắt (25/06/2017 - 01:04:05 PM)
Một số bệnh thường gặp ở người già (25/06/2017 - 08:48:00 AM)
Kiểm soát ung thư cổ tử cung (25/06/2017 - 08:47:50 AM)
Kinh nghiệm phẫu tích nhánh xuyên động mạch ngực lưng (19/06/2017 - 01:04:27 PM)
Chẩn đoán và điều trị u thần kinh nội tiết ở đường sinh dục nữ (17/06/2017 - 01:04:37 PM)
Nấm phổi do Aspergillus thể xâm nhập (14/06/2017 - 01:04:48 PM)
Tổn thương đáy mắt ở bệnh nhân tăng huyết áp (11/06/2017 - 01:05:12 PM)
Vai trò cộng hưởng từ trong chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến (11/06/2017 - 01:05:05 PM)
Bệnh rối loạn thái dương hàm và phương pháp điều trị (09/06/2017 - 01:05:40 PM)
Nội soi trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng (06/06/2017 - 01:05:54 PM)
Chẩn đoán lao tinh hoàn (02/06/2017 - 01:06:02 PM)
Bệnh liên quan tới rối loạn các chất trong lysosome (30/05/2017 - 01:06:12 PM)
Chẩn đoán và điều trị nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở trẻ em (29/05/2017 - 01:06:21 PM)
Đặc điểm hình ảnh nội soi trong chẩn đoán một số bệnh lý khớp gối (28/05/2017 - 08:52:02 AM)
KỶ YẾU MỚI PHÁT HÀNH
TẠP CHÍ MỚI PHÁT HÀNH
Downdload tài liệu

Mã số tin nhắn trả về:

TRA CỨU TỪ ĐIỂN
Từ điển: 
Từ khóa:   
Đại từ điển trực tuyến
--- Liên kết website ---
LIÊN KẾT
Chung cư HH2 Linh Đàm