TẠP CHÍ Y HỌC THỰC HÀNH - BỘ Y TẾ - JOURNAL OF PRACTICAL MEDICINE Thứ 6, ngày 20/9/2019  
Kiến Thức HIV/AIDS
21/11/2012 - 11:15:33 PM
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS
Nâng cao năng lực cho các tổ chức cộng đồng nhằm thực hiện thực hiện hoạt động dự phòng, chăm sóc và hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS đã được triển khai tại Việt Nam trong nhiều năm qua.

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Nâng cao năng lực cho các tổ chức cộng đồng nhằm thực hiện thực hiện hoạt động dự phòng, chăm sóc và hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS đã được triển khai tại Việt Nam trong nhiều năm qua. Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả bước đầu các hoạt động nâng cao năng lực và dự phòng của dự án STRONGER do tổ chức CARE thực hiện thông qua phản hồi các nhóm đối tượng thụ hưởng; Đưa ra bài học kinh nghiệm và khuyến nghị cho việc thiết kế và triển khai các chương trình phòng chống HIV/AIDS dựa vào các tổ chức cộng đồng. Phương pháp nghiên cứu: Áp dụng các phương pháp định đính gồm phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tại 6 tỉnh với tổng số 94 phỏng vấn sâu và 35 thảo luận nhóm. Kết quả: Nhìn chung, các nhóm đối tượng thụ hưởng phản hồi tích cực đối với các chương trình nâng cao năng lực và các dịch vụ cả về dự phòng và điều trị. Chương trình STRONGER đã phát huy được nhiều điểm mạnh liên quan tới tổ chức, nhân lực, điều hành và dịch vụ cung cấp. Bên cạnh đó, cũng còn một số tồn tại cần khắc phục để hoạt động có hiệu quả hơn. Kết luận: STRONGER là một sáng kiến táo bạo trong đó các nhóm đối tượng đích được tham gia vào toàn bộ quá trình quản lý dự án đã đáp ứng được nhu cầu của bản thân đối tượng đích vì nó được đề xuất bởi chính nhóm đối tượng đích, đem lại các lợi ích cho các nhóm hưởng lợi nói riêng cũng như cộng đồng nói chung.

Từ khóa: Trao quyền, nhóm tự lực, nâng cao năng lực, dự phòng, HIV/AIDS.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trao quyền trong phòng, chống HIV/AIDS, được hiểu là tạo cho mỗi người dân, mỗi gia đình, tổ chức, mỗi cộng đồng các điều kiện và cơ hội được tham gia vào các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS cho chính bản thân họ, gia đình họ, cho chính cộng đồng của họ,được khuyến khích nhằm đẩy mạnh và tăng tính bền vững trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS (1). Tại Việt Nam, việc trao quyền cho các tổ chức xã hội dân sự, các nhóm tự lực dựa vào cộng đồng (CBO) để thực hiện các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS đã từng bước được triển khai và có xu hướng phát triển và được ghi nhận (2). Trong đó, CARE là một trong những tổ chức phi chính phủ Quốc tế tại Việt Nam đầu tiên đưa ra sáng kiến cộng đồng phòng chống HIV/AIDS thông qua các khoản tài trợ nhỏ trực tiếp cho các nhóm tự lực của người nhiễm HIV (người có H-NCH).

Dự án Nâng cao Năng lực các Tổ chức Cộng đồng thực hiện Dự phòng, Chăm sóc và Hỗ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS (STRONGER) do CARE thực hiện cũng tập trung vào việc triển khai huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự vào hoạt động Phòng, chống HIV/AIDS. Trong năm STRONGER 6 (9/2010-9/2011), CARE hỗ trợ cho 10 nhóm/tổ chức cộng đồng tại 6 địa phương, tập trung vào 4 nhóm hoạt động chính gồm: I) Tăng cường năng lực cho các tổ chức cộng đồng (CBO) và các nhóm tự lực của những người đang sống chung với HIV (PLHIV); II) Thực hiện can thiệp dự phòng cho những nhóm người có hành vi nguy cơ cao (MARP); III) Hoạt động chăm sóc giảm nhẹvà hỗ trợ cho NCH tại nhà và tại cộng đồng; IV) Chăm sóc và hỗ trợ cho Trẻ Mồ côi, Trẻ ảnh hưởng (OVC) tại nhà và tại cộng đồng. Thêm vào đó, Tổ chức CARE phối hợp với các Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS, Hội PC HIV/AIDS của các tỉnh, thành phố của 6 tỉnh/thành có dự án và 10 CBO thực hiện các can thiệp dự phòng cho những người tiêm chích ma túy, các chị lao động tình dục, chăm sóc giảm nhẹ cho NCH, trẻ mồ côi và Trẻ ảnh hưởng bởi HIV/AIDS. CARE đã không ngừng tăng cường năng lực và tính chủ động cho các CBO trong quản lý và thực hiện các hoạt động của dự án.

Mục tiêu của nghiên cứu này bao gồm: I) đánh giá hiệu quả các hoạt động triển khai của CARE trong các hoạt động nâng cao năng lực và dự phòng thông qua phản hồi các nhóm đối tượng lợi đối với những dịch vụ được cung cấp; và II) Đưa ra bài học kinh nghiệm và khuyến nghị cho việc thiết kế và triển khai các chương trình phòng chống HIV/AIDS dựa vào các tổ chức cộng đồng.

PHƯƠNG PHÁP, ĐỊA BÀN VÀ CỠ MẪU

1. Phương pháp nghiên cứu

Do hạn chế về số liệu định lượng, cụ thể là số liệu đánh giá ban đầu của dự án không được thu thập nên trong phạm vi của nghiên cứu này áp dụng các phương pháp định đính gồm phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.

2.    Địa bàn, cỡ mẫu

Việc thu thập số liệu được thực hiện tại 6 tỉnh mà dự án triển khai là Quảng Ninh, Hà Nội, Nghệ An, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ và An Giang với tổng số 94 phỏng vấn sâu và 35 thảo luận nhóm (6 người/nhóm).

KẾT QUẢ

1.  Phản hồi của người thụ hưởng

Về các hoạt động nâng cao năng lực

Nhìn chung các đối tượng tham gia đánh giá phản hồi tích cực về chương trình nâng cao năng lực của CARE dành cho các đối tượng hưởng lợi. Trong các nội dung đã được đào tạo, các nhóm tình nguyện đánh giá cao các nội dung về quản lý và triển khai hoạt động theo nhóm, các kiến thức và kỹ năng về hỗ trợ chăm sóc tại nhà, các kỹ năng về huy động sự tham gia của cộng đồng trong việc triển khai các hoạt động của nhóm tình nguyện vào dịp lễ hoặc các sự kiện lớn.

Tôi cho rằng các chương trình nâng cao năng lực của CARE được tiến hành một cách bài bản, cẩn thận, chu đáo, chặt chẽ và đúng trình tự. Cán bộ tập huấn khá chuyên nghiệp.

PVS thành viên BĐH Nhóm Tình Thân-Tp. Hồ Chí Minh

Em ấn tượng nhất có một khóa về kỹ năng điều hành nhóm do CARE giảng dạy. Giảng viên giảng rất nhiệt tình và rất cuốn hút. Qua khóa học, điều em rất tâm đắc đó là việc chuẩn bị như thế nào và xây dựng được kế hoạch để có thể vận động được sự tham gia của cộng động.

PVS TNV - Nhóm VNMTS Vân Đồn-Quảng Ninh

Thông qua các chương trình nâng cao năng lực, TNV đã được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công tác chăm sóc cho NCH, trẻ OVC và dự phòng lây nhiễm HIV cho nhóm nguy cơ cao. Qua phỏng vấn, nhóm nghiên cứu được biết nhiều TNV ngày nay đã trở thành giảng viên (trainer) cho các nhóm mới thành lập, thậm chí nhiều TNV còn được mời làm hướng dẫn viên cho các Tổ chức Phi chính phủ Việt nam và Quốc tế.

Anh H ở nhóm em đi giảng cho các nhóm CBO ở tỉnh X mà các nhân viên y tế của PAC ở đấy cứ nghĩ anh ấy là bác sỹ.

PVS Thành viên BĐH-Nhóm VNMTS Hà Nội

Em còn nhớ cái ngày đầu tiên em phải lên chia sẻ lại cho các bạn khác, em run vô cùng. Em tập suốt mấy hôm mà vẫn còn sợ. Nhưng rồi được mọi người động viên khích lệ, bây giờ em đã có thể đứng trước đám đông để chia sẻ.

 PVS TNV chăm sóc tại nhà – Nhóm VNMTS Hà Nội

Về các hoạt động dự phòng

Một trong những thành quả lớn nhất mà dự án đem lại cho nhóm hưởng lợi đó là kiến thức cũng như hành vi về phòng chống HIV/AIDS đã được cải thiện rõ rệt thông qua truyền thông với nhiều nội dung khác nhau như kiến thức chung về HIV/AIDS và các đường lây truyền, cách phòng tránh lây nhiễm cho gia đình và cộng đồng, hướng dẫn cách chăm sóc cho người thân trong gia đình và trẻ OVC bên cạnh rất nhiều nội dung khác.

Được tham gia các buổi sinh hoạt như thế này rất hữu ích đối với bọn em. Tới CLB em không chỉ được biết được kiến thức các bệnh lây truyền cao trong nghề của mình, các nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS, mà còn biết đươc cách phòng tránh để bảo vệ sức khỏe cho mình. Câu lạc bộ Biển Xanh đã thực sự trở thành nơi để chị em cùng cảnh có thể giao lưu, chia sẻ tâm tư tình cảm của mình.

 PVS FSW-CLB Biển xanh - thuộc LM CLB Đồng Cảm Hạ Long

Nói chung hoạt động dự phòng cho các đối tượng là người sử dụng ma túy (NSDMT) đã có những tác động khá lớn đến các đối tượng NSDMT và bạn tình của họ. Các đối tượng này cảm thấy thoải mái hơn sau khi tham gia vào nhóm và đã có một số hành vi thay đổi như sử dụng BCS thường xuyên, và không dùng BKT chung, hoặc hỗ trợ bạn bè cùng tham gia.

Mình cảm thấy có 1 nét gì đấy rất phấn khởi sau khi tham gia vào nhóm, nghĩa là mình lôi kéo các anh em bạn bè cùng cảnh ngộ vào cùng chia sẻ, cho cộng đồng không phân biệt với mình thôi.

 TLN khách hàng IDU-Nhóm Quỳ Hợp-Nghệ An

2.  Bài học kinh nghiệm

Về các chương trình nâng cao năng lực

Tuy nhiên, cũng còn tồn tại một số vấn đề liên quan tới chương trình nâng cao năng lực được nêu ra trong quá trình đánh giá. Cụ thể, tồn tại liên quan đến đào tạo nói chung trong dự án STRONGER theo phản ảnh của các nhóm hưởng lợi đó là việc lựa chọn các giảng viên phù hợp và có phương pháp giảng dạy tích cực. Một số TNV ở Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Nghệ An có phản ánh rằng với một số nội dung đào tạo, giảng viên chưa thực sự nhiệt tình và phương pháp giảng dạy chưa thu hút được học viên.

Một vấn đề nữa được đề cập đến đó là năng lực không đồng đều, giữa các thành viên cũng khiến cho việc lựa chọn và cử thành viên nhóm tình nguyện tham gia các khóa đào tạo không phải lúc nào cũng đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó, do trình độ còn hạn chế của không ít tình nguyện viên khiến việc tập huân sử dụng các biểu mẫu thu thập số liệu, giám sát và đánh giá cũng còn có những điểm hạn chế.

Về dự phòng

Do TNV là người cùng cảnh với khách hàng nên họ dễ đồng cảm và chia sẻ được với khách hàng. Hơn nữa trước đây họ đã từng là NLĐTD, NSDMT nên họ nắm rất rõ địa bàn, thời gian hoạt động và đặc điểm của khách hàng, vì thế dễ dàng tiếp cận hơn với nhóm đích. Bên cạn đó, TNV được CARE tập huấn thường xuyên về kiến thức và kỹ năng kỹ năng tiếp cận, truyền thông với khách hàng NSDMT và NLĐTD. Ngoài tập huấn của CARE, các tình nguyện còn được Ban Điều hành nhóm tập huấn và hỗ trợ thường xuyên trong quá trình làm việc. Cán bộ dự án của CARE và nhóm thường xuyên đi tiếp cận cùng TNV để có thể hỗ trợ kịp thời. Được sự ủng hộ của chính quyền địa phương, các chủ cơ sở nhà hàng khách sạn nên việc tiếp cận, truyền thông với NSDMT, NLĐTD của các nhóm tương đối thuận lợi.

Tuy nhiên, việc triển khai cũng gặp phải một số khó khăn, vướng mắc. Thứ nhất, về mặt chính quyền và pháp lý: do đối tượng đích của nhóm là những người có H đã hoặc đang sử dụng ma túy, hành nghề mại dâm và bạn tình của họ, do vậy việc tiếp cận với họ tại các “điểm nóng” đã gây khó khăn cho các TNV khi làm việc. Thực tế đã có trường hợp TNV bị đưa về trụ sở công an làm việc, trong khi đó nhóm không có 1 bằng chứng nào để có thể xác nhận ngay tại thời điểm đó là đang tham gia hoạt động cho nhóm, mà phải dựa vào các mối quan hệ cá nhân can thiệp bởi TNV của các nhóm hiện chưa có thẻ hay bất kỳ giấy chứng nhận nào là đang làm việc cho dự án.

Thứ hai, tại Việt Nam NSDMT, NLĐTD vẫn là hai đối tượng chịu sự truy quét của công an. Mỗi khi có chiến dịch truy quét, các đối tượng đích bị bắt rất nhiều do đó họ sẽ di chuyển nơi làm việc hay thay đổi hình thức làm việc. Vì thế, rất khó để có thể gặp gỡ, tiếp cận khách hàng.

Vào các ngày lễ công an truy quét kinh lắm, có khi khách hàng của mình bị bắt hết. ở những “điểm nóng” - nơi có nhiều NSDMT và LĐTD thường xuyên lui đến công an theo dõi thường xuyên và đặt chốt kiểm tra ngay đây, do vậy khó tìm được đối tượng tiếp cận lắm, chưa nói gì đến có thời gian để ngồi truyền thông.

PVS TNV- Mạng lưới SPN+-TP HCM

Thứ ba, khách hàng không quan tâm nhiều đến nội dung truyền thông của tình nguyện viên và không hợp tác với chương trình. Khách hàng thường không muốn tiếp xúc với nhiều người, và họ có mối quan tâm khác hấp dẫn hơn là ngồi nghe nói chuyện về sức khỏe. vì thế, việc truyền thông và giúp khách hàng thay đổi hành vi rất khó khăn với các nhóm và các tình nguyện viên. Nhưng bằng sự kiên trì của các tình nguyện viên, dần dần qua nhiều lần tiếp cận cũng thuyết phục được khách hàng và mời họ tham gia vào các hoạt động của nhóm.

Thứ tư, kiến thức và kỹ năng của tình nguyện còn hạn chế: Mặc dù được tập huấn thường xuyên nhưng phần lớn tình nguyện viên là những người có H đang dùng ARV nên trí nhớ hạn chế. Hơn nữa, TNV thay đổi thường xuyên rất khó khăn cho việc đào tạo mới. Cuối cùng, đối với một số khách hàng, kỳ vọng về dịch vụ cao hơn như là: Mong muốn được biết và hiểu sâu hơn về các loại ma túy mới, được cung cấp BKT nhiều hơn nữa và được hỗ trợ trong việc cai nghiện bẳng methadone, đặc biệt là ở địa bàn phức tạp như ở TP HCM.

ĐÁNH GIÁ VỀ STRONGER

1.Đánh giá chung

CARE là một tổ chức đi tiên phong trong việc hỗ trợ trực tiếp cho các nhóm tự lực tại Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của mô hình quản lý trong dự án đó là việc các nhóm đối tượng đích được tham gia vào toàn bộ quá trình quản lý dự án như viết đề xuất hỗ trợ, lên kế hoạch thực hiện, điều hành và triển khai các hoạt động và cùng với CARE giám sát đánh giá dự án và đã đáp ứng được nhu cầu của bản thân đối tượng địch vì nó được đề xuất bởi chính nhóm đối tượng đích.

Mô hình của CBO do CARE hỗ trợ cũng rất đa dạng. Mỗi mô hình lại có những thế mạnh riêng. Mô hình các nhóm tự lực có tầm quan trọng rất lớn trong việc hoàn thành mục tiêu thiên niên kỷ về phòng chống đại dich HIV/AIDS là giảm số mới mắc, giảm tử vong và giảm kỳ thị, phân biệt đối xử.

…Chính bản thân họ là những người nhiễm tham gia vào các hoạt động chăm sóc như vậy, họ lấy cá nhân họ làm bằng chứng để thuyết phục cho những người hiện nay chưa muốn công khai việc nhiễm của mình để sẵn sàng tiếp cận với các dịch vụ y tế. Họ tiếp cận sớm, họ động viên khuyến khích những người cùng cảnh ngộ như họ đến sớm với các dịch vụ y tế để góp phần cho việc người nhiễm tham gia vào công tác điều trị sớm thì giảm tử vong. Và khi mà tỷ lệ người nhiêm HIV tham gia vào các dịch vụ điều trị càng cao thì nó góp phần cho dự phòng. Nếu không có nhóm tự lực hay các tình nguyện viên tiếp cận cộng đồng thì chúng ta rất khó để hoàn thành mục tiêu thiên niên kỷ.

PVS đại diện lãnh đạo PAC – An Giang

Mô hình tổ chức của các CBO cũng rất đa dạng và xác định các nhóm khách hàng mục tiêu khác nhau. Trong khi một số nhóm nhân lực chủ yếu là các tình nguyện viên là những người có H, có những CBO thu hút những TNV được đào tạo hết sức bài bản. Vì vậy, việc đánh đồng về năng lực và định mức tài chính hỗ trợ cho TNV giữa các CBO sẽ làm hạn chế tính xung kích, tình nguyện của họ.

CARE đã thực hiện tốt công tác hỗ trợ các nhóm tình nguyện trong quá trình họ triển khai các hoạt động tại địa bàn và đem lại các lợi ích cho các nhóm hưởng lợi nói riêng cũng như cộng đồng nói chung. Hỗ trợ và giám sát thường xuyên, giải quyết kịp thời những khó khăn trong quá trình vận hành, triển khai các hoạt động. Tạo nhiều cơ hội chia sẻ và giao lưu giữa các nhóm khác nhau trên cùng một tỉnh hoặc nhiều tỉnh để họ học hỏi và rút kinh nghiệm trong quá trình triển khai các hoạt động của nhóm.

Dự án STRONGER do CARE tài trợ đã đem lại lợi ích trực tiếp đến cho các nhóm hưởng lợi, giảm bớt chi phí cho các khâu điều hành trung gian như một số dự án khác. Vì bản thân nhóm tình nguyện là người đề xuất và triển khai các hoạt động nên họ sẽ biết rõ nhất đầu là nhu cầu cần thiết cũng hiểu được cách làm thế nào để tiếp cận các nhóm đối tượng và cung cấp cho học các dịch vụ và lợi ích phù hợp nhất.

Bản thân em thấy rằng mô hình các nhóm tình nguyện của CARE được thực sự trao quyền điều hành và triển khai hoạt động là một điều vô cùng quan trọng. Bởi bản thân những người như chúng em – những NCH – mới thực sự hiểu được nhu cầu và cần phải làm những gì để tự giúp mình và giúp những người đồng cảnh ngộ. Với sự hỗ trợ về tài chính và đào tạo của CARE bản thân các thành viên trong nhóm đều được nâng cao kiến thức và kỹ năng về nhiều mặt, đặc biệt là hỗ trợ chăm sóc cho NCH và trẻ OVC để có thể đến tiếp cận và giúp đỡ họ.

PVS TNV-Vân Đồn-Quảng Ninh

2.    Điểm mạnh

Tổ chức gọn nhẹ và hiệu quả: các CBO do một nhóm cá nhân tự đứng ra thành lập mà không chịu sự quản lý nhà nước của bất kỳ cơ quan nào, cho phép các CBO trực tiếp tham gia vào việc xác định nhu cầu, điều hành, đề xuất hoạt động, thực hiện việc giám sát dưới sự hỗ trợ của CARE.Trưởng nhóm thường là người sẽ phân công trách nhiệm và công việc của các thành viên dựa trên tình trạng sức khỏe, sự nhiệt tình cũng như năng lực cá nhân của bản thân mỗi thành viên.

Trao quyền cho nhóm tự lực: Việc trao quyền cho các nhóm trong việc tham gia vào toàn bộ quá trình quản lý dự án đã góp phần thực hiện nguyên tắc GIPA, đảm bảo quyền được tham gia của đối tượng hưởng lợi. Chính vì vậy, các nhóm tham gia một cách trách nhiệm và rất nhiệt tình.

Chương trình này (STRONGER) rất quan trọng với chúng tôi. Nó đánh dấu một bước ngoặc trong việc nâng cao năng lực. Lần đầu tiên chúng tôi được tham gia vào cả một quá trình từ xây dựng dự án, triển khai và quản lý. Chúng tôi rất tự hào về điều này vì tất cả các hoạt động liên quan đều được hoàn thành với chất lượng cao.

PVS thành viên Ban điều hành Nhóm Vì ngày mai tươi sang – Hà Nội

Xây dựng hoạt động dựa trên nhu cầu: Việc xây dựng kế hoạch hoạt động cũng như chương trình tập huấn đào tạo đều xuất phát từ nhu cầu nhóm hưởng lợi, hoàn toàn không mang tính áp đặt. Nhờ vậy đã thu hút được sự tham gia, hưởng ứng nhiệt tình của những người hưởng lợi.

TNV có tâm huyết: Các tình nguyện trong nhóm được tuyển dụng dựa trên các tiêu chí: I) có mối quan hệ với người có H; II) thường là những người đồng đẳng có H; III) sống trong cùng khu phố. Tuy nhiên, tiêu chí quan trọng nhất quyết định thành công của nhóm là tất cả các TNV đều những người tâm huyết, đặc biệt chuyên tâm với công việc, không quản khó khăn, luôn luôn lắng nghe và hết lòng chia sẻ đối với những có H.

Điều hành hoạt động hiệu quả: ở các CBO có 2 cuộc họp định kỳ vào sáng thứ 7 và sáng Chủ nhật. Thứ nhất, vào sáng thứ 7 hàng tuần, tất cả các TNV sẽ tham gia buổi giao ban tuần để báo cáo lại kết quả các hoạt động triển khai trong tuần, và đặc biệt là chia sẻ những khó khăn gặp phải, những trường hợp phức tạp cần giúp đỡ. Trên cơ sở đó, nhóm sẽ tìm cách để giải quyết. Sáng chủ nhật, ban điều hành sẽ nhóm họp để quyết định và phân công nhiệm vụ cho các TNV trong tuần tiếp theo.

Phù hợp với xu thế hiện tại: đó là việc huy động cộng tham gia nhiều hơn nữa vào công tác phòng, chống HIV/AIDS. Mô hình này cũng xuất phát từ thực tế và nhu cầu của nhóm người có hành vi nguy cơ cao. Huy động được sự tham gia không những của bản thân người bệnh mà còn các thành viên trong gia đình.

3.    Hạn chế

Mặc dù có rất nhiều điểm mạnh, mô hình này cũng bộc lộ một số hạn chế sau:

Thiếu tư cách pháp nhân: Tất cả các CBO đều không có tư cách pháp nhân để có thể tự tổ chức và huy động sự tham gia của nhiều bên liên quan, nên nhiều khi gặp khó khăn trong các hoạt động. Việc không có tư cách pháp nhân do hoạt động độc lập và không gắn kết với các đơn vị có tư cách pháp nhân cũng phần nào hạn chế khả năng huy động và phối hợp với các bên liên quan và ban ngành trong việc triển khai các hoạt động theo như kế hoạch của các nhóm.

Hoạt động hỗ trợ việc làm còn hạn chế: Trong khi nhu cầu tìm kiếm việc làm trong nhóm những NCH thực sự cần thiết và thu hút sự quan tâm từ phía các nhóm hưởng lợi, việc đáp ứng nhu cầu thực tế còn rất hạn chế. Thực tế cho thấy, bản thân NCH khi đã điều trị tốt, sức khỏe duy trì những lại gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm và có thu nhập ổn định trong khi hỗ trợ tình nguyện của dự án chỉ đủ để họ hoạt động trong khuôn khổ dự án, chứ không đủ đáp ứng các nhu cầu khác của bản thân và gia đình. Một số nơi cũng đã thử nghiệm một số hoạt động hỗ trợ việc làm như mô hình sản xuất tôm khô ở Vân Đồn tuy nhiên hiệu quả chưa thực sự rõ rệt. Trong khi rất nhiều NCH và bản thân nhóm tình nguyện hiện không có việc làm và thu nhập ổn định.

Kinh phí hỗ trợ thấp: Với định mức hỗ trợ tài chính hiện tại không tạo ra được sự khuyến khích cho các tình nguyện viên. Một số ý kiến cho rằng nên tăng hỗ trợ lên bằng lương cơ bản để các tình nguyện đảm bảo điều kiện thực hiện các hoạt động của dự án cùng với tinh thần nhiệt tình sẵn có.

Thủ tục tài chính phức tạp: Nhiều học viên thiếu kỹ năng làm việc với sổ sách giấy tờ mặc dù trong khi học thực hiện các chăm sóc, hỗ trợ rất tốt. Bên cạnh đó việc có quá nhiều loại sổ sách cũng làm tình nguyện viên khó khăn trong hoạt động tiếp cận.

Trình độ hạn chế của nhóm tình nguyện: đặc biệt là các vấn đề liên quan đến điều trị ARV hoặc nhiễm trùng cơ hội. Chính bản thân các nhóm tình nguyện cũng nhận biết được điều này và các ý kiến khách đến từ các cán bộ y tế ở các cơ sở điều trị đều đề cập đến cùng đến hành chế này.

KẾT LUẬN

Nhờ tham gia vào chương trình mà năng lực của các nhóm CBO đã tăng lên đáng kể. Nhiều nhóm từ chỗ chỉ có số ít thành viên khi bắt đầu, đến nay đã phát triển thành mạng lưới hay liên minh với hàng chục nhóm nhỏ hay câu lạc bộ nhỏ với sự tham gia của hàng ngàn người nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS. Sự lớn mạnh của bản thân các CBO trong thời gian qua cả về số lượng và chất lượng đã chứng tỏ phần nào chiến lược đúng đắn trong việc nâng cao năng lực cho các CBO. Từ những khoản tài trợ nhỏ, đến nay, hầu hết các nhóm đã trở thành địa chỉ tin cậy cho nhiều tổ chức trong nước và Quốc tế. vai trò của các nhóm cũng được ghi nhân bởi các cơ quan Chính phủ và phi chính phủ.

Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận là hiện tại các CBO vẫn chủ yếu dựa trên nguồn vốn đầu tư của các dự án. Khi không còn được hỗ trợ về tài chính, có thể vẫn duy trì được hoạt động của nhóm tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức độ “phong trào” và hỗ trợ lẫn nhau, chủ yếu về mặt tinh thần, chứ không có được các hỗ trợ về vật chất. Vì vậy, để cải thiện mô hình chúng tôi đề xuất một số nội dung sau:

- Về tổ chức bộ máy:Cân nhắc việc gắn kết các nhóm tự lực này vào 1 cơ quan có chức năng quản lý nhà nước cụ thể là Trung tâm phòng chống AIDS tuyến tỉnh để nâng cao tính bền vững. Việc chính thức hóa tổ chức, giúp cho các TNV khi đi làm có thêm xác nhận là TNV, để thuận lợi hơn trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, khi phát triển cần phải có tổ chức, vì các nhóm tự lực không phải nhóm nào khi phát triển lên đều chính thức, mà cần xem xem khả năng về năng lực và kiến thức, điều kiện của từng nhóm để quyết định thành lập. Nếu không đủ điều kiện thì nên có sự liên kết lại.

- Về phương hướng hoạt động: Đối với các nhóm tự lực cần đặt ra tầm nhìn, sứ mệnh của mình, xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể, có quy chế, quy định rõ ràng, hạn chế các hoạt động tự phát.

- Về hình thức và nội dung tuyên truyền: Cập nhật kiến thức thường xuyên hơn cho thành viên ban điều hành và các tình nguyện viên thông qua việc tổ chức thêm các khóa tập huấn và tập huấn lại. Ví dụ, tổ chức thường xuyên các khóa tập huấn liên quan đến điều trị ARV và phác đồ bậc 2 của ARV, cập nhật thông tin về các loại ma túy mới mà khách hang đang sử dụng và các hình thức cai nghiện hiện có cho các TNV, để họ nắm được thông tin cơ bản, chính xác phục vụ cho công việc, bởi không phải TNV nào cũng biết và cập nhật được thông tin kịp thời. Từ đó, các TNV có thể tự tin khi truyền thông cho khách hang đồng thời cung cấp kiến thức đúng cho khách hàng…

- Về hình thức tài liệu truyền thông: Cung cấp thêm tài liệu truyền thông và đổi mới cách thiết kế và nội dung như làm bộ tài liệu nhỏ, gọn, có nhiều hình minh họa hấp dẫn (xây dựng tài liệu nhỏ, gọn không quá to).

- Về trọng tâm tuyên truyền:Cần tập trung hơn cho chương trình dự phòng lây nhiễm cho nhóm có nguy cơ cao, coi đây là một hoạt động thường xuyên, liên tục. Cần đổi mới hình thức tuyên truyền theo hướng sáng tạo thêm và giảm thiểu sự nhàm chán.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Schou, A. (2009), Who benefits from demand-driven distribution of HIV/AIDS services? An analysis of the emerging CBO sector in Malawi. Public Admin. Dev., 29: 155–166. doi: 10.1002/pad.520;

Uỷ ban Quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS và Phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030
Theo Tạp Chí Y học Thực hành

[Quay lại]
 In trang    Đầu trang
Các tin cùng chủ đề
Cơ chế lây truyền HIV từ mẹ sang con (04/12/2012 - 10:33:30 PM)
NGUY CƠ NHIỄM HIV VÀ TÌNH HÌNH TIẾP CẬN CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG NGỪA LÂY NHIỄM HIV CỦA MẠI DÂM NAM TẠI TP. HCM, VIỆT NAM (26/11/2012 - 11:00:07 PM)
Những hiểu biết sai lầm về HIV/AIDS (23/11/2012 - 03:18:47 PM)
Ảnh hưởng của thuốc lá với người nhiễm HIV (22/11/2012 - 03:04:41 PM)
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ QUẬN 4, TP. HỒ CHÍ MINH (19/11/2012 - 11:46:02 PM)
TỶ LỆ NHIỄM HIV, GIANG MAI VÀ CÁC HÀNH VI NGUY CƠ GÂY NHIỄM HIV TRONG NHÓM ĐỒNG BÀO DÂN TỘC ÍT NGƯỜI TẠI VIỆT NAM (19/11/2012 - 11:25:18 PM)
Những khám phá quan trọng về điều trị HIV năm 2011 (19/11/2012 - 09:44:28 AM)
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ NHIỄM HIV (17/11/2012 - 09:36:44 AM)
NHU CẦU VÀ SỰ ĐÁP ỨNG NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO TRẺ NHIỄM HIV VÀ TRẺ BỊ ẢNH H¬ỞNG BỞI HIV/AIDS (TRẺ OVC) TẠI HUYỆN SÓC SƠN, HÀ NỘI NĂM 2011 (16/11/2012 - 11:35:20 PM)
Truyền thông để giảm thiểu sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. (13/11/2012 - 10:42:42 PM)
Dấu hiệu nhận biết nhiễm HIV/AIDS (13/11/2012 - 09:32:08 AM)
Phòng bệnh HIV/AIDS. (11/11/2012 - 10:52:07 PM)
Lần đầu có kít xét nghiệm nhanh HIV tại nhà (07/11/2012 - 09:09:12 AM)
PHÁT HIỆN RA CÁCH “ VÔ HIỆU HÓA” VIRUS AIDS (25/10/2012 - 11:01:13 PM)
Giảm tỉ lệ HIV ở gái mại dâm (25/10/2012 - 10:45:44 PM)
KỶ YẾU MỚI PHÁT HÀNH
TẠP CHÍ MỚI PHÁT HÀNH
Downdload tài liệu

Mã số tin nhắn trả về:

TRA CỨU TỪ ĐIỂN
Từ điển: 
Từ khóa:   
Đại từ điển trực tuyến
--- Liên kết website ---
LIÊN KẾT
Chung cư HH2 Linh Đàm