TẠP CHÍ Y HỌC THỰC HÀNH - BỘ Y TẾ - JOURNAL OF PRACTICAL MEDICINE Chủ nhật, ngày 26/6/2022  
Các bệnh chuyên khoa
14/04/2014 - 02:07:44 PM
Đặc điểm hình ảnh chụp cắt lớp vi tính trong viêm tụy cấp
YHTH - Viêm tụy cấp (VTC) là bệnh lý cấp tính thường gặp trong ổ bụng, bệnh diễn biến phức tạp, gây nhiều biến chứng nguy hiểm, tỷ lệ tử vong cao. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm tần suất mắc bệnh khoảng 25 - 50 bệnh nhân/100.000 dân.

Tại Mỹ mỗi năm có khoảng 210.000 bệnh nhân VTC nhập viện.

Hội nghị Quốc tế ở Atlanta (9/2002) đã thống nhất phân loại VTC thành 2 thể gồm thể phù nề và thể hoại tử chảy máu. Thể hoại tử chảy máu có tiên lượng nặng, diễn biến nặng, dễ dẫn tới nhiễm trùng, suy giảm chức năng sinh tồn... tử vong cao.

Chẩn đoán thể trong VTC là một vấn đề hết sức quan trọng vì phải sử dụng những thăm do khác nhau, kết hợp giữa lâm sàng và cận lâm sàng. Thực tế cho thấy chẩn đoán thể trong VTC chủ yếu dựa vào chẩn đoán hình ảnh như X quang quy ước, siêu âm, nội soi, chụp cắt lớp vi tính (CLVT), chụp cộng hưởng từ (MRI)...Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, hạn chế nhất định. Chụp CLVT chẩn đoán thể bệnh trong VTC tuy không phải là phương pháp duy nhất, thay thế hoàn toàn các xét nghiệm nhưng nó tránh được hạn chế của các phương pháp chẩn đoán khác và tỏ ra có hiệu quả cao, nhất là chẩn đoán thể bệnh và theo dõi tiên lượng giúp quá trình điều trị chính xác hơn.

Ở các nước phương Tây, sỏi mật và lạm dụng rượu là nguyên nhân của 80% các trường hợp VTC phải nhập viện. Ở Việt Nam, ngoài nguyên nhân kinh điển như trên thì còn có một nguyên nhân quan trọng khác là do giun chui ống mật - tụy. Chẩn đoán VTC, ngoài các dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm sinh hóa máu thì chụp CTVT là thăm dò tốt nhất để đánh giá tổn thương, tiên lượng và hướng dẫn điều trị VTC. Hình ảnh của VTC trên chụp CLVT rất đa dạng, cụ thể:

Về kích thước tụy: Trên chụp CLVT, đa số các nghiên cứu đều thấy tụy to ra nhưng nếu người bệnh được thăm khám vào giai đoạn sớm hoặc VTC thể nhẹ thì hình ảnh tụy bình thường. Trong trường hợp VTC hoại tử chảy máu, giai đoạn đầu do tổ chức hoại tử còn nhỏ và vẫn còn xen lẫn với tổ chức lành nên tụy to lúc đầu chủ yếu do phù nề sung huyết hoặc do tích tụ các sản phẩm viêm. Giai đoạn sau, khi tụy bị hoại tử nhiều thì tụy to và thường có thêm bờ cong lồi. Nhưng nếu tụy tiếp tục hoại tử thêm thì dịch hoại tử sẽ chảy vào khoang sau phúc mạc và ổ bụng sẽ làm cho kích thước tụy giảm đi. Nếu chụp CLVT trong giai đoạn này có thể không thấy tụy to nữa. Do vậy khi theo dõi kích thước tụy phải chú ý kết hợp với các dấu hiệu khác để đề phòng, vì dù kích thước tụy bình thường nhưng thực tế VTC đã ở giai đoạn tụy hoại tử nhiều và dịch đã chảy vào ổ bụng.

Về tình trạng ống tụy: Ống tụy chỉ giãn khi viêm tụy cấp là do nguyên nhân cơ học như do sỏi kẹt Oddi, do bị chèn ép hoặc do bị phù nề.

Về bờ tụy: Bình thường bờ tụy thường liền, mảnh, liên tục và rõ nét trên chụp CLVT. Khi tụy viêm thì bờ trở thành không đều, mấp mô, lồi lõm hoặc mờ đi làm khó phân biệt ranh giới giữa nhu mô tụy với tổ chức mỡ quanh tụy. Ý nghĩa của việc nhìn thấy rõ đường bờ tụy giúp tiên lượng và phân loại thể bệnh VTC rất hiệu quả, nhất là trong trường hợp VTC thể hoại tử.

Tình trạng khoang quanh tụy: Chúng tôi chụp CLVT phát hiện được dấu hiệu thâm nhiễm mỡ quanh tụy sớm, thâm nhiễm mỡ quanh khoang cạnh thận, xoá vách mỡ trong tuyến, dày thành tạng rỗng lân cận, dày cân sau phúc mạc.

Dịch tự do trong ổ bụng: CHụp CLVT phát hiện được dịch trong khoang lách thận là 69,0%, khoang gan thận là 33,1%, dịch ở túi cùng Douglas là 31,5%. Dấu hiệu dịch tự do có trong ổ bụng là dấu hiệu nặng. Vì vậy, chụp CLVT tìm dịch tự do ngoài chẩn đoán còn có giá trị đánh giá tiên lượng rất tốt.

Dòng chảy tụy: Dòng chảy của dịch tụy và dịch của các tổ chức hoại tử chứa nhiều amylase, chảy dọc theo dây chằng phúc mạc quanh tụy vào các khoang dưới phúc mạc và những khoang thấp hoặc tổ chức quanh tụy. Do mạc Toldt phải và trái ghép với nhau thành khoang nên khi có dịch chảy vào sẽ làm cho chúng có thể tách ra. Dòng chảy tụy còn có thể tạo khối hoặc thoái hóa trở thành nang giả tụy. Nang có thể hình thành ở nhiều vị trí khác nhau trong ổ bụng.

Tràn dịch màng phổi: Chụp CLVT cũng giúp phát hiện tràn dịch màng phổi từng bên một hoặc cả hai bên màng phổi.

Đặc điểm về tỉ trọng nhu mô tụy trước khi tiêm thuốc cản quang: Nhu mô tụy bình thường có tỉ trọng 40-60 HU, tương đương với tỉ trọng của nhu mô gan, lách. Khi viêm, nhất là viêm tụy hoại tử thì mô tụy bị giảm tỉ trọng. Ngược lại, nếu nhu mô tụy tăng tỉ trọng thì đó là biểu hiện có chảy máu trong nhu mô.

Đặc điểm ngấm thuốc cản quang của nhu mô tụy trên chụp CLVT: Do viêm tụy hoại tử chảy máu rất khó dựa vào tỉ trọng của nhu mô để chẩn đoán thể bệnh do ổ hoại tử nhỏ nên tỉ trọng nhu mô và tổ chức viêm nhiễm xung quanh tụy tương tự nhau. Để chẩn đoán thể bệnh, phải tiêm thuốc cản quang để chụp CLVT. Khi chụp CLVT có tiêm thuốc cản quang, viêm tụy thể phù nề và viêm tụy thể hoại tử có thể dễ dàng phân biệt được với độ nhạy tới 87%, độ đặc hiệu 100%.

Đánh giá thể bệnh: Để chẩn đoán VTC thực tế không thể dựa đơn thuần vào kích thước tụy mà phải dựa thêm về cấu trúc tụy và dấu hiệu ngoài nhu mô...

Hoại tử nhu mô tụy: Là một trong những yếu tố quyết định sự tiến triển tại chỗ của tổn thương và để tiên lượng VTC. Trước kia người ta quan niệm hoại tử là giai đoạn tiếp theo của VTC phù nề. Ngày nay nhờ có chụp CLVT nên quan niệm này đã thay đổi.

Tiên lượng: Nghiên cứu các vùng hoại tử rất có ý nghĩa tiên lượng. Nếu không có vùng hoại tử thì tỷ lệ có VTC là 6% và không có tử vong.

Thời gian hoại tử: Chỉ có một số ít trường hợp VTC hoại tử chảy máu xảy ra sau giai đoạn viêm phù nề. Chúng tôi chưa xác định được thời gian hoại tử nhu mô tụy nhưng chụp CLVT đã phát hiện được. VTC có tổn thương hoại tử chảy máu, vì vậy chụp CLVT là phương tiện chẩn đoán hình ảnh chủ lực để đánh giá hoại tử nhu mô tụy, vì nó phát hiện rất chính xác vùng bị tổn thương và mức độ hoại tử giúp các nhà lâm sàng quyết định cách thức điều trị.

Số ngày nằm viện và chỉ số trầm trọng: Số ngày nằm viện liên quan chặt chẽ với mức độ viêm và hoại tử nhu mô tụy và luôn tỷ lệ thuận với chỉ số trầm trọng của bệnh nhân.

Với phương pháp chẩn đoán tiên lượng bệnh ngày càng chính xác, bệnh nhân VTC được điều trị nội khoa là chủ yếu và chất lượng điều trị chung ngày càng tốt hơn.

Chụp CLVT có ý nghĩa rất lớn để chẩn đoán, đánh giá, tiên lượng cũng như xác định chỉ số trầm trọng. Chụp CT còn có giá trị lớn để định hướng và hướng dẫn xử lý can thiệp trong quá trình điều trị, góp phần nâng cao chất lượng điều trị và giảm số ngày nằm viện cho người bệnh.



 

YHTH số 3 (907)

[Quay lại]
 In trang    Đầu trang
Các tin cùng chủ đề
Kỹ thuật lọc máu hiện đại: cuộc cách mạng trong hồi sức (26/06/2017 - 08:47:38 AM)
Những hướng tiếp cận triển vọng trong điều trị mộng mắt (25/06/2017 - 01:04:05 PM)
Một số bệnh thường gặp ở người già (25/06/2017 - 08:48:00 AM)
Kiểm soát ung thư cổ tử cung (25/06/2017 - 08:47:50 AM)
Kinh nghiệm phẫu tích nhánh xuyên động mạch ngực lưng (19/06/2017 - 01:04:27 PM)
Chẩn đoán và điều trị u thần kinh nội tiết ở đường sinh dục nữ (17/06/2017 - 01:04:37 PM)
Nấm phổi do Aspergillus thể xâm nhập (14/06/2017 - 01:04:48 PM)
Hiện tượng đáp ứng tăng huyết áp cấp tính ở bệnh nhân xuất huyết não giai đoạn cấp (13/06/2017 - 01:04:55 PM)
Tổn thương đáy mắt ở bệnh nhân tăng huyết áp (11/06/2017 - 01:05:12 PM)
Vai trò cộng hưởng từ trong chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến (11/06/2017 - 01:05:05 PM)
Bệnh rối loạn thái dương hàm và phương pháp điều trị (09/06/2017 - 01:05:40 PM)
Nội soi trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng (06/06/2017 - 01:05:54 PM)
Chẩn đoán lao tinh hoàn (02/06/2017 - 01:06:02 PM)
Bệnh liên quan tới rối loạn các chất trong lysosome (30/05/2017 - 01:06:12 PM)
Chẩn đoán và điều trị nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở trẻ em (29/05/2017 - 01:06:21 PM)
KỶ YẾU MỚI PHÁT HÀNH
TẠP CHÍ MỚI PHÁT HÀNH
Downdload tài liệu

Mã số tin nhắn trả về:

TRA CỨU TỪ ĐIỂN
Từ điển: 
Từ khóa:   
Đại từ điển trực tuyến
--- Liên kết website ---
LIÊN KẾT
Chung cư HH2 Linh Đàm