TẠP CHÍ Y HỌC THỰC HÀNH - BỘ Y TẾ - JOURNAL OF PRACTICAL MEDICINE Chủ nhật, ngày 20/8/2017  
Các bệnh chuyên khoa
05/07/2016 - 03:29:57 PM
Chẩn đoán và điều trị nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở trẻ em

YHTH - Bệnh giun đũa chó, mèo ở người được Wilder mô tả lần đầu vào năm 1950 khi phát hiện ấu trùng của giun tròn trong u hạt võng mạc (retinal granuloma). Sau đó năm 1952, lần đầu tiên Beaver và cs dùng từ “ấu trùng di chuyển nội tạng” (visceral larva migrans) để báo cáo một loạt ca bệnh trẻ em có bạch cầu ái toan tăng cao trong máu đi kèm với bệnh nặng và kéo dài ở nhiều cơ quan và khi làm sinh thiết phát hiện ấu trùng của Toxocara canis hay Toxocara cati.

Tại Việt Nam trong những năm gần đây bệnh đã xuất hiện ở nhiều nơi và có xu hướng gia tăng nhanh. Bên cạnh đó, ở nước ta người dân có thói quen nuôi chó không kiểm soát, thả rong, phân chó gặp ở khắp nơi, số mẫu đất có nhiễm trứng giun đũa chó thay đổi từ 5,0-26,0% tùy theo từng vùng sinh địa cảnh, nên tất cả con người đều có nguy cơ nuốt phải chúng.

Nhiễm ấu trùng toxocara canis (ấu trùng di chuyển) thường không có triệu chứng. Mặc dù tổn thương thần kinh do nhiễm ấu trùng toxocara canis là rất hiếm, nhiễm giun đũa chó hệ thần kinh vẫn là một chẩn đoán phân biệt quan trọng của các rối loạn thần kinh khác nhau. Biểu hiện thần kinh thường gặp là giảm trí nhớ, viêm não - màng não, viêm tủy, viêm mạch máu não, động kinh, hoặc viêm thần kinh thị. Nếu bệnh không được đặt ra trong chẩn đoán, ấu trùng có thể tồn tại trong nhiều năm trong hệ thần kinh trung ương mà không được phát hiện. Chẩn đoán và điều trị sớm rất quan trọng vì nó làm giảm tỉ lệ mắc bệnh, tỉ lệ tử vong và nguy cơ bội nhiễm thứ cấp. Cũng như nhiễm giun đũa chó nội tạng, nhiễm giun đũa chó hệ thần kinh ở trẻ em được điều trị bởi các benzimidazol, thường dùng albendazol nhất hoặc diethylcarbamazin. Nếu phát hiện và điều trị sớm, tiên lượng bệnh sẽ thuận lợi.

Trong nhiều năm, bệnh giun đũa chó, mèo (thường gọi là giun đũa chó, tên khoa học: toxocara naris) ở người được xem là bệnh ít gặp ở trẻ em, nhưng với những tiến bộ trong huyết thanh chẩn đoán những năm gần đây người ta thấy tỉ lệ người có phản ứng dương tính với kháng nguyên ngoại tiết của toxocara sp không phải là thấp, kể cả ở trẻ em lẫn người lớn và một số tác giả còn cho rằng đây là một bệnh giun sán phổ biến nhất ở các nước phát triển.

Người nuốt phải trứng thường là trẻ em chơi đất, chơi với chó... Tại ruột non, ấu trùng giai đoạn II chui ra khỏi trứng vào vách ruột, theo máu lên gan, phổi, não, tim, da, cơ, mắt...v.v. Tại đây, ấu trùng có thể sống được nhiều tháng, thậm chí nhiều năm và vì lạc vật chủ sang người nên chúng không bao giờ phát triển thành giun trưởng thành.

Tổn thương hệ thần kinh trung ương do nhiễm ấu trùng giun đũa chó không có triệu chứng lâm sàng đặc thù và hình ảnh tổn thương trên phim (cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ) có thể chẩn đoán nhầm với các tổn thương não khác như u não, abces não… Nếu phát hiện và điều trị sớm, tiên lượng bệnh sẽ thuận lợi.

Trường hợp bệnh

Trẻ gái 11 tuổi, dân tộc thiểu số sống ở một huyện miền núi tỉnh Quảng Trị, biểu hiện triệu chứng đau đầu trong vòng một tháng khi nhập viện. Mức độ đau đầu nhẹ. Theo gia đình mô tả có kèm theo nôn và cơn co giật (cơn xuất hiện một lần duy nhất), không ghi nhận sốt hoặc biểu hiện mệt mỏi. Các triệu chứng tiếp diễn khiến gia đình đưa trẻ đến bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị. Tại đây, trẻ được chụp cộng hưởng từ não ghi nhận có vùng thay đổi tín hiệu ở vùng đỉnh bán cầu não trái. Sau đó trẻ được chuyển lên tuyến trên là Trung tâm Nhi, Bệnh viện Trung ương Huế vào ngày 25/4/2015 với chẩn đoán u não vùng đỉnh bán cầu não trái.

Tại Trung tâm Nhi, Bệnh viện Trung ương Huế, trẻ vẫn còn đau đầu nhẹ, không kèm theo nôn hoặc buồn nôn, không có dấu thần kinh khu trú. Không có cơn động kinh tái phát. Khám mắt và soi đáy mắt không thấy tổn thương.

Các xét nghiệm được thực hiện với kết quả như sau: hồng cầu máu 6,39 x 106/µL, Hb 11,6 g/dL; tiểu cầu 491 x 103/µL; bạch cầu 5,58 x 103/µL (neut 33,8%, lymp 53,4%, eosin 2,0%); CRP, SGOT - SGPT trong giới hạn bình thường; tế bào dịch não tủy 2 bạch cầu/mm3. Điện não đồ bình thường.

Bệnh nhân được chỉ định chụp cộng hưởng từ não, kết quả nốt giảm tín hiệu không đồng nhất trên T1W, tăng nhẹ tín hiệu trên T2W và FLAIR, bờ khá đều, giới hạn ít rõ, kích thước 12x6x5 mm, ở hồi trước trung tâm bên trái. Tổn thương này ngấm thuốc mạnh dạng viền sau tiêm gado, kèm phù não xung quanh. Cấu trúc đường giữa ít di lệch. Hệ thống não thất bình thường. Kết luận CHT: theo dõi u não vùng đỉnh - thái dương bên trái và chẩn đoán phân biệt viêm não do ký sinh trùng.

Với biểu hiện lâm sàng không đặc trưng của một bệnh cảnh u não, kết hợp với gợi ý chẩn đoán của CHT, chúng tôi đã thực hiện chẩn đoán huyết thanh với các loại ký sinh trùng (amibe, toxoplasma gondii, paragonimus, strongyloides sterrcoralis, cysticercose, gnathostoma, fasciola, toxocara), kết quả dương tính với Toxocara IgG (1,28 OD).

Tổng hợp các dữ kiện lâm sàng và cận lâm sàng, chúng tôi đưa ra chẩn đoán xác định: bệnh não do nhiễm ấu trùng giun đũa chó. Điều trị với albendazol 15 mg/kg/ngày trong 21 ngày.

Kết quả bệnh nhân hết biểu hiện đau đầu từ ngày thứ 6 điều trị, không có cơn động kinh tái phát (chưa chỉ định điều trị thuốc kháng động kinh). Không có biểu hiện tác dụng phụ của albendazol.

Sau 3 tháng, bệnh nhân được chụp CHT não để đánh giá lại thương tổn được phát hiện trước điều trị. Kết quả, không còn tồn tại tín hiệu bất thường tại vùng được khảo sát. Điều này môt lần nữa khẳng định chẩn đoán tổn thương não ở bệnh nhân này là do nhiễm ấu trùng giun đũa chó.

Trường hợp bệnh nhi được mô tả trên có tiền sử khỏe mạnh, nhưng sống ở miền núi, có nuôi chó và mèo ở nhà. Một con chó hay con mèo bị nhiễm bệnh có thể thải ra môi trường xung quanh lên đến một triệu trứng Toxocara mỗi ngày và trứng có thể tồn tại trong môi trường nhiều năm. Bệnh nhân có thể đã ăn thực phẩm bị ô nhiễm hoặc tay của trẻ tiếp xúc với mầm bệnh mà không được vệ sinh kỹ trước khi ăn uống.

Bệnh hệ thần kinh trung ương do giun đũa chó, mèo cũng như viêm màng não tủy tăng tế bào ưa acid là một tình trạng lâm sàng hiếm gặp ở các nước ôn đới. Từ đầu những năm 1950 đến 2004, 28 trường hợp nhiễm ấu trùng giun đũa chó hệ thần kinh được mô tả, trong số đó chỉ có 14 trẻ em. Trong một nghiên cứu 47 trường hợp nhiễm ấu trùng giun đũa chó hệ thần kinh, tuổi trung bình lúc chẩn đoán là 22 tuổi và gần 60% số bệnh nhân là người lớn.

Mặc dù động kinh là một triệu chứng hiếm gặp, nó đã được mô tả ở một trẻ gái 11 tuổi nhiễm ấu trùng giun đũa chó hệ thần kinh. Bệnh nhân có cơn động kinh đầu tiên và chưa thấy tái phát, nhưng điện não đồ không cho thấy sóng bất thường.

Chẩn đoán phân biệt bao gồm u não, áp xe não, viêm não cấp tính, bệnh não do giun hoặc không giun sán khác.

Albendazol là một trong những thuốc được sử dụng phổ biến nhất trong điều trị nhiễm ấu trùng giun đũa chó hệ thần kinh. Một số tác giả cho rằng albendazol có thể hiệu quả hơn thiabendazol và dễ dung nạp hơn. Tuy nhiên, các benzimidazol khác có thể được sử dụng, chẳng hạn như mebendazol, flubendazol hoặc thiabendazol, thời gian điều trị 3-4 tuần. Bệnh nhân của chúng tôi hết triệu chứng đau đầu và nôn, không thấy cơn động kinh tái phát sau 6 ngày điều trị với albendazol và mebendazol (kế hoạch điều trị 21 ngày). Vai trò của corticoid chưa rõ ràng.

Các hàng rào máu - não ít thấm tốt cho tất cả các loại thuốc giun sán hiện có, nhưng các benzimidazol khác hấp thu kém hơn albendazol bên ngoài đường tiêu hóa. Sử dụng albendazol 3 lần mỗi ngày hiệu quả hơn một liều hàng ngày duy nhất. Albendazol cho kết quả tốt hơn so với các loại thuốc giun sán khác, vì nó đạt đến nồng độ trong huyết thanh cao hơn, có một sự thâm nhập tốt hơn vào dịch não tủy và ít độc hại.

Tiên lượng phụ thuộc vào chẩn đoán sớm và điều trị thích hợp, để ngăn chặn nhiễm ấu trùng thứ cấp và có thể rất tốt trong ít nhất là 60% trường hợp.

Điều trị thuốc giun sán đặc hiệu cho nhiễm giun đũa chó hệ thần thường giải quyết các triệu chứng thần kinh, nhưng tổn thương hình thái trên hình ảnh hiếm khi giảm kích thước hoặc số lượng. Một số phương pháp tiếp cận thực nghiệm dẫn đến kết quả đầy hứa hẹn, như điều biến miễn dịch kết hợp với globulin miễn dịch và kẽm. Ngoài việc điều trị bằng thuốc, cần phòng chống tái nhiễm triệt để bằng cách tẩy giun cho chó, mèo và giáo dục vệ sinh.

Nhiễm giun đũa chó hệ thần kinh biểu hiện như bệnh não với suy giảm nhận thức, viêm não - màng não, viêm mạch máu não, động kinh, rối loạn thị giác, viêm tủy... Lây truyền từ động vật sang người khi có yếu tố thuận lợi như chung sống với những con chó và mèo, vệ sinh kém, và thường xuyên lui tới các công viên và sân chơi. Các biện pháp dự phòng bao gồm hạn chế tiếp xúc với đất bị ô nhiễm, thường xuyên vệ sinh phòng bệnh vật nuôi, hạn chế vật nuôi tiếp xúc với trẻ.

Nếu phát hiện và điều trị sớm, tiên lượng của các biểu hiện thần kinh của nhiễm giun đũa chó là thuận lợi. Theo dõi bệnh tốt nhất bằng chụp cộng hưởng từ lặp đi lặp lại. Thử nghiệm nhiều lần cho các kháng thể Toxocara là không hữu ích để theo dõi tiến triển của bệnh, vì chúng có thể vẫn còn dương tính trong nhiều tháng hoặc nhiều năm, thậm chí sau khi hồi phục lâm sàng. Số lượng bạch cầu ưa acid trong máu nên được kiểm tra kỹ lưỡng cho nhiễm giun sán. Bạch cầu ái toan dịch não tủy không phải là điều kiện tiên quyết để chẩn đoán nhiễm giun đũa chó hệ thần kinh trung ương.

Theo YHTH (1000), số 3/2016

[Quay lại]
 In trang    Đầu trang
Các tin cùng chủ đề
Bệnh vô sinh tại Việt Nam đang gia tăng (28/06/2017 - 07:34:43 PM)
Kỹ thuật lọc máu hiện đại: cuộc cách mạng trong hồi sức (24/06/2017 - 07:48:01 PM)
Kiểm soát ung thư cổ tử cung (23/06/2017 - 07:40:44 PM)
Một số bệnh thường gặp ở người già (22/06/2017 - 07:58:31 PM)
Những điều cần biết về bệnh tăng áp động mạch phổi (07/08/2016 - 01:38:55 PM)
Phát hiện sớm ung thư cổ tử cung, các tổn thương tiền ung thư bằng phiến đồ Pap (28/07/2016 - 09:31:21 PM)
Điều trị bệnh nhân đột quỵ thiếu máu cấp (26/07/2016 - 10:37:29 PM)
Điều trị bệnh nhân u đa hình tuyến nước bọt mang tai (14/07/2016 - 04:23:45 PM)
Bệnh liên quan tới rối loạn các chất trong lysosome (10/06/2016 - 11:18:41 AM)
Nội soi trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng (10/05/2016 - 10:51:00 PM)
Chẩn đoán và điều trị u thần kinh nội tiết ở đường sinh dục nữ (17/12/2015 - 10:49:15 PM)
Bệnh rối loạn thái dương hàm và phương pháp điều trị (09/05/2015 - 09:26:56 AM)
Hiện tượng đáp ứng tăng huyết áp cấp tính ở bệnh nhân xuất huyết não giai đoạn cấp (13/03/2015 - 03:56:19 PM)
Chẩn đoán lao tinh hoàn (02/03/2015 - 02:43:26 PM)
Nấm phổi do Aspergillus thể xâm nhập (14/01/2015 - 03:02:38 PM)
KỶ YẾU MỚI PHÁT HÀNH
TẠP CHÍ MỚI PHÁT HÀNH
Downdload tài liệu

Mã số tin nhắn trả về:

TRA CỨU TỪ ĐIỂN
Từ điển: 
Từ khóa:   
Đại từ điển trực tuyến
--- Liên kết website ---
LIÊN KẾT
Chung cư HH2 Linh Đàm